" TỔNG THỐNG TRONG ĐẠI NGHỊ CHẾ II"
của Ts Nguyễn Học Tập.



Trong phần đầu của bài viết, chúng ta đă đề cập đến phương thức tuyển chọn vị Tổng Thống trong Đại Nghị Chế.

Qua phương thức bầu cử được bàn đến, ai cũng thấy được Hiến Pháp đă xếp đặt làm cho vị thế của Tổng Thống nổi bậc trong cộng đồng Quốc Gia,



- là vị " Nguyên Thủ quốc Gia, tượng trưng cho sự hợp nhứt Đất Nước " ( Điều 87, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc)

- là cơ quan được Hiến Pháp chỉ định "... mưu ích cho dân tộc Đức, tránh thiệt hại cho dân tộc, bảo đảm và bênh vực Hiến Pháp..., bảo vệ công lư cho mọi người " ( Điều 56, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).



Địa vị nổi bậc và trách nhiệm cao cả vừa kể thoạt tiên cho chúng ta thấy được vai tṛ tối quan trọng của Tổng Thống trong Cộng Đồng Quốc Gia.

Đó là vai tṛ tham gia định hướng đường lối chính trị Quốc Gia.

Đành rằng Quốc Hội được dân chúng bầu lên để thể hiện, định hướng đường lối chính trị Quốc Gia, tiếng nói của lư tưởng, nhu cầu và ước vọng của dân chúng:



- " Mọi công dân đều có quyền tự do gia nhập thành chính đảng để cùng nhau cộng tác theo phương thức dân chủ, xác định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Các chính đảng mà dân chúng có quyền tự do gia nhập vừa kể, sẽ cử người ra tranh cử và được tuyển chọn thành Quốc Hội, nói lên đường lối chính trị dân chúng muốn.

Đường lối chính trị đó là định chuẩn để Quốc Hội bỏ phiếu " chuẩn y hay bác bỏ " chương tŕnh chính trị đề ra để thực hiện ( Hành Pháp) của Chính Quyền, khi Chính Quyền vừa được thành lập, đến đệ tŕnh trước Quốc Hội, xin Quốc Hội bỏ phiếu tín nhiệm:



- " Trong ṿng mười ngày, từ khi được thành lập, Chính Quyền phải tŕnh diện trước Quốc Hội để được tín nhiệm " ( Điều 94, đoạn 3, id.).



Những ǵ vừa kể cho thấy đường lối chính trị được Quốc Hội đề ra theo khuynh hướng, theo đó chính Quốc Hội được dân chúng bầu lên.

Kế đến Chính Quyền đến tŕnh diện trước Quốc Hội, đệ tŕnh Quốc Hội chương tŕnh thực hiện chính hướng được Quốc Hội đề ra, hợp với lư tưởng, nhu cầu và ước vọng của dân chúng.

Và với tư cách là

- vị " Nguyên Thủ Quốc Gia, tượng trưng cho sự hợp nhứt Đất Nước, ...mưu ích cho dân tộc, tránh thiệt hại, bảo vệ Hiến Pháp và bảo vệ công lư cho mọi người",

Tổng Thống là người có quyển và trách nhiệm can thiệp vào đường lối chính trị Quốc Gia, trong lúc hoạch định luật pháp, cũng như đối với chương tŕnh được đem ra thực hiện.

Nói cách khác, Tổng Thống trong Đại Nghị Chế có quyền và bổn phận kiểm soát, sửa đổi làm cách nào để các bậc thang giá trị được Hiến Pháp đứng ra tuyên bố bảo vệ, được thực hiện, không bị phương hại và phá vở.

Đường lối chính trị Quốc Gia trên thực tế không có ǵ khác hơn là những phương thức thực hiện những giá trị được Hiến Pháp ấn định.

- Thực hiện bằng luật pháp được Quốc Hội " lập pháp" ra, " chuẩn y hay bác bỏ " các điều khoản luật, nêu lên thể thức, điều kiện và trường hợp phải thi hành;

- thực hiện bằng các phương thức áp dụng được Chính Quyền " hành pháp " đem luật ra áp dụng vào thực tế.

Nhưng dù ở tiến tŕnh nào đi nữa, đường lối chính trị Quốc Gia, " lập pháp " hay " hành pháp", đều không thể đi ra ngoài các bậc thang giá trị được Hiến Pháp xác định.

Người đầu tiên trong Cộng Đồng Quốc Gia có quyền và nhiệm vụ bảo đảm cho đường lối chính trị không đi ra ngoài và không đi ngược lại Hiến Pháp, người đó chính là vị Nguyên Thủ Quốc Gia.

* " Bảo vệ và bênh vực Hiến Pháp " không có ǵ hơn là bảo vệ và bênh vực các giá trị được Hiến Pháp xác nhận, bảo vệ và bênh vực Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ:



- " Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là tôn trọng và bỏi vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức)

- " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xă hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của ḿnh..." ( Điều 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Nhưng " nhận biết ", " bảo vệ ", " bất khả xâm phạm "

* không chỉ có nghĩa là không ai được doạ nạt, áp chế, cho công an ập vào tư gia, chữi bới, đánh đập, bắn giết, bắt bỏ tù, coi con người như sút vật, chỉ v́ tụi nó là " bọn Tin Lành " họp nhau đọc kinh, cầu nguyện, thờ phượng "Chúa của tụi nó",

*mà c̣n tiền liệu tạo các điều kiện và phương thức thích ứng để con người có cơ hội phát triển chính ḿnh và cộng tác xây dựng Quốc Gia tiến triển tốt đẹp cho ḿnh và cho đồng bào ḿnh



- " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xă hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và b́nh đẳng của người dân, không cho phép mỗi người được triển nở hoàn hảo con người của ḿnh và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xă hội của xứ sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



" ...mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của ḿnh và tham gia một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xă hội của xứ sở "



là những giá trị được Hiến Pháp xác nhận như là cùng đích của tổ chức Quốc Gia, không có đường lối chính trị nào, ở bất cứ tiến tŕnh nào có thể đi ngược lại.

Đó là những ǵ Tổng Thống trong Đại Nghị Chế có bổn phận và có quyền hạn kiểm soát phải được tôn trọng và thi hành, kiểm soát đường lối chính trị Quốc Gia.

Kiểm soát có nghĩa là không dự phần, đứng bên ngoài và đứng lên trên để nh́n thấy và phán đoán: Tổng Thống

* là vị Nguyên Thủ Quốc Gia, đứng trên mọi người " super partes",

* là người có nhiệm vụ trung hoà ( neutre) không thiên vị,
*có nhiệm vụ và bổn phận kiểm soát đường lối chính trị ở mọi tiến tŕnh,

* v́ là người tượng trưng cho sự hợp nhứt Quốc Gia ( G. Guarino, Lezioni di diritto pubblico, Giuffré, Milano 1969, 214).



II - Quyền hành của Tổng Thống.

Với vị thế và nhiệm vụ cao cả như vậy, Tổng Thống không thể nào không có được một tất sắt trong tay.

Và đó là những ǵ các Hiến Pháp Đại Nghị Chế dành đặc quyền cho Tổng Thống.



A - Quyền hành Tổng Thống theo quan niệm thông thường.

a) Những quyền có tính cách cưỡng chế.

Để có thể hữu hiệu kiểm soát đường lối chính trị quốc gia, thực hiện lư tưởng được Hiến Pháp xác định, không đi ra ngoài, không đi ngược lại và thực hiện hiệu năng những ǵ Hiến Pháp quy trách cho cơ chế Quốc Gia, Hiến Pháp giao cho Tổng Thống quyền

- ra chỉ thị tổ chức các cuộc bầu cử và thiết định thời điểm phiên họp đầu tiên của Tân Quốc Hội ( Điều 87, đoạn 3 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

- bổ nhiệm Thủ Tướng Chính Phủ và theo lời đề nghị của Thủ Tướng, bổ nhiệm các Bộ Trưởng ( Điều 92, đoạn 2, id.).

- bổ nhiệm các viên chức cao cấp Quốc Gia, theo các trường hợp luật định ( Điều 87, đoạn 7, id.),

- ra chỉ thị tổ chức các cuộc trưng cầu dân ư ( xác nhận cũng như thu hồi các đạo luật mà ḿnh cho là không thích hợp) ( Điều 87, điều 6, id.).

- tuyên bố tính trạng chiến tranh ( Điều 87, đoạn 9, id.), sau khi Quốc Hội xác nhận và trao các quyền hạn cần thiết cho Chính Quyền ( Điều 78, id.).

Những quyền vừa kể là những quyền có tính cách cưỡng chế, bắt buộc phải thi hành, được Hiến Pháp giao cho Tổng Thống với tư cách là Nguyên Thủ Quốc Gia, bảo đảm cho việc thực thi các bổn phận hiến định:



- " Tổng Thống Cộng Hoà là vị Nguyên Thủ Quốc Gia và tượng trưng cho sự hợp nhứt đất nước" ( Điều 87, đoạn 1, id.).



b) Những quyền tự lập.

Với tư cách là vị Nguyên Thủ Quốc Gia và là người " đứng giữa và đứng trên ", dưới sự hướng dẫn của Hiến Pháp, Tổng Thống có thể chỉ dẫn, góp ư sao cho chương tŕnh áp dụng Hiến Pháp được hữu hiệu hơn, tốt đẹp hơn, đôi khi cũng đứng về phía có đường lối đúng đắn, để đưa ra những chỉ thị nên thi hành.

Có lẽ chúng ta sẽ bàn đến khi có dịp đề cập đến những trường hợp cá biệt, áp dụng những ǵ vừa kể.



c) Chữ kư của các Bộ Trưởng liên hệ.

- " Không có văn bản nào của Tổng Thống có giá trị, nếu không được ấn kư của các Bộ Trưởng đề xướng, là những người đứng ra chịu trách nhiệm".

- " Các văn bản có hiệu lực pháp định và các văn bản khác được luật pháp tiền liệu phải được Thủ Tướng Hội Đồng Nội Các kư " ( Điều 89, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

Hai đoạn của điều 89 vừa trích dẫn được viết theo tinh thần quyền lực c̣n sót lại của thể chế quân chủ, theo đó th́ mọi chỉ thị của vua phải mang cả chữ kư của Bộ Trưởng, có trách nhiệm thừa hành.

Vị Bộ Trưởng vừa chịu trách nhiệm trước mặt vua, nếu công việc không mang lại kết quả tốt đẹp mong muốn, mà chữ kư là bảo chứng, và cũng chịu trách nhiệm trước mặt dân chúng, nếu các động tác của Bộ đương nhiệm, đang khi thi hành, vi phạm luật lệ hoặc gây thiệt hai cho dân chúng.

Vua ra chỉ thị, nhưng có Bộ Brưởng " bao che ", nhà vua là " con trời ", không bao giờ sai lỗi, nhứt là sai lỗi đối với thần dân! Dân không có quyền hạch hỏi vua ( P. Barile, E. Cheli, s. Grassi, Istituzioni di diritto pubblico, VIII ed., Cedam, Padova 1998, 339).

Nhưng rồi quan niệm quyền bính quân chủ lỗi thời đó qua đi, điều khoản của Hiến Pháp được cắt nghĩa theo quan niệm mới, dĩ nhiên cũng là để " bao che" cho vị Nguyên Thủ Quốc Gia.

Chữ kư của Bộ Trưởng trên văn kiện của Tổng Thống cho thấy văn kiện được Tổng Thống ấn kư theo lời yêu cầu của Bộ Trưởng liên hệ, có chữ kư của ông, nói lên thẩm quyền của ông trong lănh vực và dĩ nhiên chính ông là người mang lấy trách nhiệm khi thi hành.

Chữ kư của Tổng Thống trên văn kiện chứng tỏ Tổng Thống đă duyệt qua và chứng nhận cho là nội dung của văn bản không đi ngược lại các giá trị của Hiến Pháp ( C. Esposito, Controfirma ministeriale, in Enc. dir.,X, Milano 1962, 288).



B - Xếp loại quyền hành Tổng Thống theo mục đích.

Tuy nhiên để có thể xếp loại quyền hành của Tổng Thống một cách dễ hiểu và dễ nhớ hơn, chúng ta nên xếp loại theo mục đích mà các quyền được Hiến Pháp dành cho Tổng Thống.

Theo lư luận đó, chúng ta có thể xếp các quyền của Tổng Thống trong Đại Nghị Chế theo bốn loại:

- quyền kiểm soát và hăm thắng,

- quyền kích thích và khuyến khích thực hiện các giá trị Hiến Pháp,

- quyền che chở và bảo vệ các cơ chế hiến định được hoạt động đều hoà,

- các quyền c̣n sót lại từ tập quán, vẫn được giao cho Tổng Thống.



( A ) Các quyền kiểm soát và hăm thắng.



a) Triệu tập Quốc Hội trong trường hợp bất thường.

- " Mỗi Viện Quốc Hội, trong trường hợp bất thường, có thể được triệu tập bởi vị Chủ Tịch của ḿnh, bởi Tồng Thống Cộng Hoà hay bởi 1/3 thành viên của Viện" ( Điều 62, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Ư nghĩa của điều khoản vừa kể cho thấy quyền triệu tập Quốc Hội, ngoại trừ bởi quyền lực nội tại của mỗi Viện, " Chủ Tịch hay 1/3 thành viên", là quyền hạn được dành cho Tổng Thống.

Chính Quyền không có quyền triệu tập Quốc Hội.

Chỉ cần 1/3 thành viên hay chính Tổng Thống đứng ra triệu tập.

Điều đó cho thấy Hiến Pháp muốn tránh cho việc dễ dàng có thể xảy ra trong Đại nghị Chế là, thành phần đa số trong Quốc Hội cũng như Chính Quyền, biểu tượng và cánh tay hành pháp của đa số trong Quốc Hội, có thê toa rập nhau, để cho Quốc Hội " nghỉ hè", rời rạc làm đ́nh trệ các quyết định phải có lo cho đất nước.

Chính đó là lúc thành phần thiểu số đối lập, " 1/3 thành viên " hay Tổng Thống có quyền " kiểm soát " việc làm của Quốc Hội, bằng cách ra lệnh triệu tập, để cho Quốc Hội đừng chễnh măng.

Và một trong những trường hợp thường được áp dụng đó là khi Chính Quyền cần tuyên bố sắc lệnh ( decreto legge) để đối phó với " trường hợp cần thiết bất thường và khẩn trương":



- " Các Viện Quốc Hội, dẫu cho đă giải tán, cũng sẽ được triệu tập lại cho sự việc và sẽ nhóm họp trong ṿng 5 ngày " ( Điều 77, đoạn 1, id.).



Thường th́ hai Viện Quốc Hội được Chủ Tịch của ḿnh triệu tập, nhưng trong trường hợp Quốc Hội nằm " án binh bất động", Tổng Thống có quyền ra lệnh triệu tập.

Nhứt là trong trường hợp Quốc Hội đă được giải nhiệm, Tổng Thống đứng ra triệu tập ( P. Barile, E. Cheli, S, Grassi, Istituzioni di diritto pubblico, VIII ed., Cedam, Padova 1998, 340).



b) Công bố luật pháp.



- " Tổng Thống Cộng Hoà công bố luật pháp và các chỉ thị có hiệu lực luật định, cũng như các thể thức và nội quy " ( Điều 87, đoạn 5 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

- " Luật pháp phải được Tổng Thống Cộng Hoà công bố nội trong một tháng sau khi được ( Quốc Hội) chuẩn y " ( Điều 73, đoạn 1 , id.).



Qua thể thức công bố luật pháp, Tổng Thống có cơ hội biết được chắc chắn là đạo luật được soạn thảo theo đúng tiêu chuẩn và tiến tŕnh lập pháp cũng như sự đồng thuận của cả hai Viện Quốc Hội.

Hậu quả của tác động công bố luật của Tổng Thống là từ đó trở đi, đạo luật trở thành có hiệu lực bắt buộc, đối với bất cứ ai, kể cả đối với Quốc Hội.

Bởi lẽ từ khi đạo luật được công bố, Quốc Hội không thể tự ḿnh thu hồi đạo luật, chối bỏ động tác " chuẩn y " của ḿnh

*và sau đó vị Chưởng Ấn ( thường là Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp), có nhiệm vụ, đă phổ biến trên tài liệu công báo ( Gazzetto Ufficiale),

* trừ khi phải đợi Viện Bảo Hiến kiểm chứng tính cách hợp hiến hay vi hiến ( C. Mortati, Istituzioni di diritto pubblico, Cedam, Padova 1991, 280).

Tổng Thống có nhiệm vụ phải công bố đạo luật "... nội trong một tháng sau khi được chuẩn y " ( Điều 73, đoạn 1, id.),

nhưng đồng thời Tổng Thống cũng có quyền đ́nh hoản:



- " Tổng Thống Cộng Hoà, trước khi công bố luật lệ, bằng thông điệp có lư chứng gởi cho Quốc Hội, có thể yêu cầu Quốc Hội đề thảo ra một bản văn mới" ( Điều 74, đoạn 1, id.).



Đó là một trong những phương thức kiểm soát, qua việc yêu cầu duyệt xét lại, để Quốc Hội có đủ quyền tự lập kết thúc tốt đẹp việc làm của ḿnh.

Trong Đại Nghị Chế thường luật pháp được Quốc Hội thảo ra và được đa số thành viên chuẩn y, cũng thường là ư kiến của Chính Quyền liên quan đến vấn đề phải giải quyết.

Do đó nếu không có Tổng Thống đứng ra kiểm soát và yêu cầu xét lại, khó mà Chính Quyền đứng ra tranh cải, chống lại Quốc Hội để yêu cầu sửa đổi.

Như vậy, nếu không có Tổng Thống đứng ra can thiệp,

* bảo vệ các giá trị được Hiến Pháp bảo vệ,

* để có được luật pháp hợp lư hơn, hiệu năng hơn,

* chương tŕnh hành động tốt đẹp hơn cho Đất Nước,

chúng ta sẽ dễ chứng kiến cảnh Quốc Hội, Đảng và Nhà Nước chỉ là một băng đảng bè cánh với nhau, áp đặt và hành xử luật pháp lên đầu lên cổ dân chúng tùy hỷ.Thể chế đó của đất nước có được gọi là Dân Chủ Xă Hội Chủ Nghĩa Marx-Lenin hay Dân Chủ Nhân Dân cũng vậy.

Không có Tổng Thống, vị Nguyên Thủ Quốc Gia " đứng giữa và đứng trên " ( super partes) để bảo đảm Hiến Pháp và bảo đảm các giá trị Hiến Pháp bảo vệ, Quốc Hội, Đảng và Nhà Nước chỉ là một băng đảng tha hồ hành xử luật pháp, quyền bính lên đầu lên cổ dân thoả thích.

Dĩ nhiên, để cho cuộc sống Quốc Gia khỏi bế tắc, Hiến Pháp cũng tiên liệu là sau khi ra thông điệp và hoàn trả lại văn bản luật pháp cho Quốc Hội, nếu Quốc Hội lại " chuẩn y " với đa số thành viên một lần nữa, Tổng Thống bị bắt buộc phải công bố đạo luật:



- " Nếu Quốc Hội chuẩn y một lần nữa đạo luật, đạo luật phải được công bố " ( Điều 74, đoạn 2, id.).



Tuy nhiên Tổng Thống cũng có thể tiếp tục từ chối công bố, nếu ông ra " thông điệp có lư chứng " cho thấy điều khoản luật phản bội hay có mưu đồ đạp đổ Hiến Pháp:



- " Tổng Thống Cộng Hoà không chịu trách nhiệm về các hành động trong lúc hành xử chức vụ của ḿnh, trừ khi có hành động trầm trọng phản bội và mưu đồ đạp đổ Hiến Pháp" ( Điều 90, đoạn 1, id.).



Điều vừa kể cho thấy, nếu biết được, " có lư chứng ", văn bản luật pháp là một loại văn bản vi hiến, màTổng Thống không ra thông điệp khuyến cáo và trao trả đạo luật lại cho Quốc Hội để duyệt xét và sửa chữa, v́ bất lực hay ươn hèn chểnh mảng, nhập vào băng đảng, cá mè một lứa, lủng đọan Hiến Pháp, lủng đoạn nền tảng của Quốc Gia.

Tội đó không thể tha thứ:



" ...trừ khi có hành động trầm trọng phản bội và mưu đồ đạp đổ Hiến Pháp".



c) Cho phép tŕnh dự án luật.



- " Tổng Thống Cộng Hoà cho phép đệ tŕnh trước Quốc Hội các dự án luật do sáng kiến của Chính Quyền " ( Điều 87, đoạn, id.).



Điều khoản vừa trích dẫn cho thấy rơ ràng đây là quyền hạn của Tổng Thống.

Chính Quyền đặt dự án luật dưới quyền kiểm duyệt của Tổng Thống, xin Tổng Thống đồng thuận cho phép để được đệ tŕnh Quốc Hội duyệt xét và " chuẩn y ".

Hiến Pháp dành riêng một điều khoản như vậy để đề cập đến các dự án luật của Chính Quyền, bởi lẽ những dự án luật vừa kể, ở các nước văn minh, là những văn bản có giá trị rất cao trong các dự thảo luật:

- là những dự án luật được các Bộ liên hệ của Chính Quyền nghiêng cứu kỹ lưỡng, có nhiều hiểu biết, dữ kiện, khả năng chuyên môn để chuẩn định cũng như đă suy tính trước các chi phí phải có và nguồn tài trợ từ đâu đến để thực hiện;

- là những dự án luật đă được Hội Đồng Nội Các bàn thảo và chấp thuận, trước khi đệ tŕnh Tổng Thống, nói lên phương thức " hành pháp " đường lối chính trị của Chính Quyền, một cách tổng quát đă được Quốc Hội đồng thuận tín nhiệm trong ngày Chính Quyền tŕnh diện trước Quốc Hội, và một cách nào đó cũng là cũng nói lên đường lối chính trị của đa số thành viên Quốc Hội ( A. Predieri, Appunti sul potere del P.d. R. di autorizzare la presentazione dei disegni di leggi governativi, in Studi Senesi 1958, 341).

Hiểu như vậy việc cho phép dự án luật được đệ tŕnh Quốc Hội là cơ hội để Tổng Thống kiểm soát tiến tŕnh soạn thảo hợp pháp của dự án, tính cách hợp hiến cũng như nội dung hiệu năng, thiết thực nhằm mưu ích cho đất nước, hay là b́nh phong để mưu đồ tư lợi, bè phái, cấu kết đảng trị.

Do đó Tổng Thống có thể từ chối không cho phép đệ tŕnh, nếu ông cho rằng dự án vi hiến, thiếu tính cách không thiên vị, hay không lợi ích thiết thực cho đất nước.

Dĩ nhiên Chính Quyền có thể vượt qua trở ngại " từ chối không cho phép đệ tŕnh " của Tổng Thống bằng cách " dúi " dự án vào tay thành phần đa số " bồ nhà " trong Quốc Hội, để họ đưa thẳng vào Quốc Hội duyệt xét.

Nhưng làm như vậy, " trọng lượng " của dự án từ dự án Chính Quyền sẽ giảm xuống thành dự án của nhóm đa số trong Quộc Hội, thiếu hẳn đi khả năng chuyên môn trong lănh vực, những suy tính của giới có thẩm quyền tạo cho dự án có giá trị.

Dù sao đi nữa, dù cho dự án " ḷn qua ngả hậu " có được Quốc Hội " chuẩn y ", Tổng Thống cũng c̣n có cơ hội kiểm soát để chuẩn định trong tiến tŕnh công bố ( A. Predieri, id., 342).



d) Quyền phê chuẩn các thoả ước quốc tế.



- " Tổng Thống ủy nhiệm và tiếp nhận các đại diện ngoại giao, phê chuẩn các thoả ước quốc tế, khi cần phải được Quốc Hội cho phép trước " ( Điều 87, đoạn 8, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Đoạn văn vừa kể cho thấy quyền ủy nhiệm và tiếp nhận ngoại giao đoàn, phê chuẩn các thoả ước quốc tế đă được Chính Quyền kư kết, không phải là quyền độc lập của Tổng Thống, mà là quyên công bố thoả ước cho mọi người, để có hiệu lực luật định bắt buộc phải thi hành, nếu cần phải được phép Quốc Hội " chuẩn y " trước.

Như vậy, các thoả ước Quốc Tế được công bố và áp dụng phải luôn luôn hợp với đường lối chính trị Quốc Gia, chính sách đối ngoại, mà việc " được Quốc Hội cho phép trước ", nói lên được đa số thành viên trong Quốc Hội đồng thuận, hợp với ư muốn của dân chúng mà Quốc Hội là tiếng nói.

Điều vừa kể cho thấy một thoả ước quốc tế được kư kết và đệ tŕnh đến tay Tổng Thống là một thoả ước đă được " đồng thuận " trước ( Quốc Hội đồng thuận cho Chính Quyền kư kết ) và " chuẩn y " thành đạo luật, báo cho Tổng Thống biết đối với Quốc Hội không c̣n ǵ là trở ngại ( A. Cassese, La formazione delle leggi, in Commnetario della costituzione, a cura di G. Branca, II, art 76-82, Zanichelli, Bologna - Roma 1979).

Như vậy quyền phê chuẩn của Tổng Thống là quyền kiểm soát hợp hay vi hiến, và sau đó trước khi công bố Tổng Thống c̣n duyệt lại nội dung của thoả ước như thể thức công bố đă được bàn đến.



e ) Chỉ huy quân đội.



- " Tổng Thống có quyền chỉ huy quân đội và là Chủ Tịch của Hội Đồng Quốc Pḥng tối cao, được luật pháp xác định, tuyên bố t́nh trạng chiến tranh do Quốc Hội công bố" ( Điều 87, đoạn 9, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Đọc qua điều khoản vừa kể của Hiến Pháp 1947 Ư Quốc, người ta có cảm tưởng là Tổng Thống trong Đại Nghị Chế cũng quyền năng hét ra lửa không thua ǵ trong Tổng Thống Chế của Hoa Kỳ và Bán Tổng Thống Chế Pháp Quốc, mà chúng tôi đă có dịp đề cập đến ở phần ( I ), của bài đang viết:

" Tổng Thống chỉ huy quân đội, Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Pḥng Tối Cao, tuyên chiến khi được Quốc Hội nháy mắt ra hiệu".

Thật ra, Tổng Thống trong Đại Nghị Chế với quyền năng ngất trời vừa kể là điều không ai có thể nghĩ ra.

Bởi đó đọc một Hiến Pháp Đại Nghị Chế khác, Hiến Pháp 1949 Cộng Ḥa Liên Bang Đức, chúng ta thấy vai tṛ của Tổng Thống trong cùng một ư nghĩa, được tuyên bố dưới h́nh thức khác :



- " Bộ Trưởng Quốc Pḥng Liên Bang có quyền lănh đạo và ra lệnh cho quân đội " ( Điều 65 a, Hiến Pháp 1949 CHLBD).

- " Cùng với việc tuyên bố t́nh trạng Quốc Pḥng khẩn trương ( Verteidigungsfall), quyền chỉ huy và ra lệnh cho quân đội được chuyển giao cho Thủ Tướng Liên Bang (Kanzler) ( Điều 115b, Hiến Pháp 1949, id.).



Như vậy quyền chỉ huy và điều khiển quân đội, trong Đại Nghị Chế

* là quyền của Hành Pháp, trực thuộc Bộ Quốc Pḥng trong trường hợp thông thường,

* và do Thủ Tướng đứng ra lănh đạo, dĩ nhiên là với sự hợp tác của cả Bộ Tham Mưu quân đội, trong trường hợp khẩn cấp và chiến tranh.

Hiểu được như vậy, chúng ta có thể giải thích quyền của Tổng Thống " chỉ huy quân dội, chủ tịch Hội Đồng Quốc Pḥng Tối Cao...và tuyên bố chiến tranh" theo một ư nghĩa khác.

Quyền " chỉ huy quân đội và chủ tịch Hội Đồng Quốc Pḥng Tối Cao " của điều 87, đoạn 9 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc chỉ có ư nghĩa Tổng Thống là người " đứng giữa và đứng trên"( super partes), là người đứng ra kiểm soát và bảo đảm cho sức mạnh của quân đội hành xử theo nguyên tắc "không thiên vị ", đối với mọi khuynh hướng chính trị.

Bộ Truởng Quốc Pḥng trong thời b́nh ( Điều 65a, Hiến Pháp 1949 CHLBD), cũng như Thủ Tướng Liên Bang ( Điều 115b, id.) trong thời kỳ khẩn trương, không thể v́ " bồ bịt ", bè phái, phe nhóm, khuynh hướng chính trị " đồng ư hay bất đồng " mà có thể đem xe tăng " đảo chánh ông Diệm ", thành lập "Hiến Chương Vũng Tàu", " Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương", " Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia"," Hội Đồng Chỉnh Lư ", là những hành động vô ư thức, dùng sức mạnh quân đội đánh đá nhau, đưa miền Nam vào tay CS.

Những người thuộc bè đảng, vây cánh, bị mua chuộc đó sẽ được lịch sử của dân tộc phán đoán.

Bởi lẽ ngoài Bộ Truởng Quốc Pḥng và Thủ Tướng chỉ huy và điều khiển quân đội, ở một Quốc Gia không có lối sống bán khai, c̣n có Tổng Thống Cộng Hoà và Hiến Pháp, nền tảng Nhân Bản và Dân Chủ của đất nước, " đứng giữa và đứng trên" hướng dẫn và ra lệnh phải tuân theo, nếu không muốn cho đất nước trở thành mọi rợ.

Cũng vậy, Tổng Thống là tiếng nói bảo đảm cho những giá trị Hiến Pháp đứng ra bảo đảm, trong đó tự do và b́nh đẳng của con người là những giá trị tiên khởi được Hiến Pháp đứng ra long trọng tuyên bố bảo vệ ngay ở những điều khoản đầu tiên ( Điều 1, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD), ( Điều 2 và điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

Những giá trị đó, bất cứ ai và bất cứ ở đâu, kể cả trong quân đội, cũng phải được tôn trọng, mặc cho luật lệ quân giai của quân đội có nghiêm ngặt.

Nhưng nghiêm ngặt không phải là lư do cho phép chà đạp các giá trị của Hiến Pháp, chà đạp con người.

Và đó là những ǵ Hiến Pháp đă tiền liệu và Tổng Thống là người bảo chứng cho mọi công dân:



- " Định chế của quân đội phải được h́nh thành theo tinh thần dân chủ của Nền Cộng Hoà" ( Điều 52, đoạn 3, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).

- " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xă hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của ḿnh..." ( Điều 2, id.).





( B ) Các quyền kích thích và khuyến khích thực hiện các giá trị Hiến Pháp.



a) Quyền gởi thông điệp.

Quyền "giải tán Quốc Hội trước định kỳ" chúng ta sẽ có dịp đề cập đến ở những ḍng tới, có thể được xem là quyền của Tổng Thống gởi thông điệp đến Quốc Hội, để thúc đẩy một Quốc Hội " nằm ỳ, án binh bất động " , không đếm xỉa ǵ đến quyền lợi của Đất Nước.

Nhưng quyền gởi thông diệp cho Quốc Hội được Hiến Pháp tuyên bố rơ rệt, giữa những quyền quan trọng của Tổng Thống:



- " Tổng Thống Cộng Hoà có thể gởi thông điệp đến Quốc Hội " ( Điều 87, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Một h́nh thức khác để gởi thông điệp, đó là tạm ngưng không công bố đạo luật đă được Quốc Hội " chuẩn y ", cho thấy Tổng Thống chưa hài ḷng hay không đồng ư với đạo luật.

Dĩ nhiên Tổng Thống không những chỉ bị giới hạn, chỉ khi nào phản đối mới gởi thông điệp đến Quốc Hội, mà c̣n đóng góp ư kiến hay chỉ thị hướng dẫn trợ lực cho Quốc Hội.

Điều vừa kể cho thấy Tổng Thống Cộng Hoà khác với nhà vua của thời quân chủ hay các nguyên thủ quốc gia trong các nền dân chủ cỗ điển ( A. Pace, Esternazioni presidenziali e forma di governo, quaderni costituzionali, 1992):

- quyền can thiệp gởi thông điệp như vừa kể, dĩ nhiên không cho phép Tổng Thống xâm nhập lănh vực chính trị của đa số, mà chỉ giới hạn ở thẩm quyền kiểm soát, có thể khuyến khích hay ngăn chận trên lănh vực hiến định, như chúng ta đă đề cập.

- đối với những thông điệp không có tính cách chính thức ( góp ư, hướng dẫn, cổ vơ chẳng hạn), không cần phải có chủ kư của Bộ Trưởng liên hệ hay Thủ Tướng như đă nói. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể xem là Chính Quyền cũng đă ngầm kư, v́ không hề phản đối.



b) Quyền bổ nhiệm các Thượng Nghị Sĩ vĩnh viễn.



- " Tổng Thống có thể tuyển chọn Thượng Nghị Sĩ vĩnh viễn suốt đời năm công dân đă làm rạng danh xứ sở bằng các công trạng thượng đẳng trong lănh vực xă hội, khoa học, nghệ thuật và văn chương " ( Điều 59, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Dĩ nhiên là văn kiện bổ nhiệm của Tổng Thống phải được Thủ Tướng hay bộ trưởng trong các lănh vực liên hệ ấn kư mới có giá trị, như điều 89, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc xác định.

Tuy nhiên thành ngữ " bằng các công trạng thượng đẳng..." cho thấy Tổng Thống có cả một vùng trời tự lập để thẩm định ai là người " có công trạng thượng đẳng" làm rạng danh xứ sở đáng được tưởng thưởng.

Một trong những vấn đề được bàn cải là " tuyển chọn Thượng Nghị sĩ vĩnh viễn suốt đời năm công dân..." có nghĩa là ở Thuợng Viện, ngoài ra số Thượng Nghị Sĩ được dân bầu, số Thượng Nghị Sĩ được thăng thưởng " bằng công trạng thượng đẳng" được xác định con số tối đa là 5 người hay mỗi Tổng Thống trong suốt nhiệm kỳ của ḿnh có quyền được thăng thưởng 5 người.

Câu trả lời được hai vị Tổng Thống cuối cùng Ư Quốc mặc nhiên trả lời bằng hành động, Tổng Thống Sandro Pertini và Francesco Cossiga.Cả hai Tổng Thống đều thăng thưởng 5 Thượng Nghị Sĩ mới ở mỗi nhiệm kỳ của ḿnh.

Càng thăng thưởng nhiều người, càng khuyến khích nhiều người ra công sức làm ích quốc lợi dân, " làm rạng danh xứ sở bằng các công trạng thượng đẳng ".



c) Quyền tuyển chọn 5 thẩm phám vào Viện Bảo Hiến.



- " Viện Bảo Hiến gồm 15 thẩm phán, 1/3 được tuyển chọn bởi Tổng Thống Cộng Hoà, 1/3 do Lưỡng Viện Quốc Hội trong phiên họp liên Viện và 1/3 Tối Cao Pháp Viện thường nhiệm và quản trị " ( Điều 135, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Thể thức tuyển chọn vừa kể cho thấy tư cách " đứng giữa và đứng trên" của Viện Bảo Hiến ( cfr. VIỆN BẢO HIẾN ĐỨNG GIỮA VÀ ĐỨNG TRÊN).

Viện Bảo Hiến gồm 15 thẩm phán,

- *1/3 do Lưỡng Viện Quốc Hội tuyển chọn giữa các thành viên của ḿnh, có thể chịu ảnh hướng của Quốc Hội, nhứt là ảnh hưởng của đa số trong Quốc Hội, và đa số trong Chính Quyền đương nhiệm mớm ư cho,

- * 1/3 do Tối Cao Pháp Viện tuyển chọn, một cơ quan không phe phái, không bị ảnh hưởng của bất cứ ai, mà chỉ phải tuân hành những ǵ luật pháp ấn định:

" Các thẩm phản chỉ lệ thuộc vào luật pháp" ( Điều 101, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc),

- * và 1/3 do Tổng Thống," đứng giữa và đứng trên ", người được dân chúng toàn quốc tuyển chọn,

*theo thể thức gián tiếp chỉ định ( Tổng Thồng được bầu do các thành viên Quốc Hội và do các đại diện được Hội Đồng Vùng đề cử đến,( điều 83, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc);

*hay do Đại Hội Liên Bang ( Bundesversammlung): gồm thành viên Hạ Viện và đại biểu được tuyển chọn từ các Tiểu Bang ( Laender), (điều 54, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD), như chúng ta đă có dịp đề cập ở phần đầu.

Một cơ quan được tuyển cử như vậy, cho thấy Viện Bảo Hiến có mục đích bảo vệ Hiến Pháp, không dễ ǵ bị thành phần phe phái toa rập lủng đoạn để làm lung lạc Hiến Pháp, luật lệ nền tảng của Quốc Gia, " Grundgesetz ".





( C ) Quyền bảo bọc và điều hoà hoạt động các cơ chế hiến định.



a) Quyền chỉ định Tân Thủ Tướng và bổ nhiệm Nội Các.

Qua những ǵ vừa đọc qua ở trên, người ta có cảm tưởng Tổng Thống cũng như Viện Bảo Hiến là hai cơ quan tiêu cực, " kỳ đà cản mũi ", kiểm soát, cản trở, bất tính nhiệm, đ́nh chỉ không phổ biến, giải tán Quốc Hội, phán quyết pháp luật vi hiến cũng như không phê chuẩn các đồ án của Chính quyền, hơn là tích cực kích thích, khuyến khích cho mọi người nỗ lực hoạt động đem lại lợi ích cho Đất Nước.

Kiểm soát, hảm thăng và điều chỉnh các lệch lạc của hai cơ quan vừa kể , cùng với cơ quan tư pháp, trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ là điều không ai có thể chối cải được.

Người dân Tây Âu đă điên đầu, nát óc để suy nghĩ và tạo dựng ra cơ chế để bảo vệ ḿnh và đồng bào ḿnh khỏi bị ai hành xử quyền lực Quốc Gia xem họ như thú vật, cho công an ập vào nhà, chữi bới, đánh đập, bắn giết, bắt bỏ tù lúc nào cũng được.

Gương nhà vua " không hề bị quyền lực nào kiểm soát " ( legibus solutus), Hitler và Mussolini tùy tiện lùa người vào các ḷ sát sinh, ập xuống các mồ chôn tập thể, chưa phai được trong trí óc họ.

Đối với họ, tổ chức Quốc Gia phải được xây dựng trên nền tảng Hiến Pháp ( Grundgesetz, Luật Lệ Nền Tảng của người Đức), và đặc tính đầu tiên của Hiến Pháp là tính cách bảo chứng:

- " Hiến Pháp là một văn bản bảo chứng ( garantismo). Ở Tây Âu, người dân đ̣i buộc phải có Hiến Pháp, nếu muốn thiết lập Quốc Gia. Hiến Pháp đối với họ là một văn bản luật pháp nền tảng, hay một loạt các nguyên tắc cơ bản, thể hiện một thể chế Quốc Gia, nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn" ( Giovanni Sartori, Elmenti di teoria politica, III ed., Il Mulino, Bologna 1995, 24s).



Nói cách khác, trong Đại Nghị Chế, Tổng Thống, Viện Bảo Hiến và Tư Pháp là những cơ quan bảo chứng phải được tiền liệu, trước khi đề cập đến các cơ chế khác của Quốc Gia, " nhằm giới hạn mọi cách hành xử quyền hành tự tung tự tác và bảo đảm một Chính Quyền có giới hạn".

Tuy vậy, Tổng Thống không phải chỉ là cơ quan được tiền liệu, " kỳ đà cản mũi ":



- " Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng và theo đề nghị của Thủ Tướng, bổ nhiệm các Bộ Trưởng" ( Điều 92, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Trương độ và thể thức xử dụng quyền hành vừa kể, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc không đưa thêm những lời chỉ dẫn, cũng như không cho biết khi nào Tổng Thống có thể xử dụng quyền thu hồi chức vụ Thủ Tướng và Nội Các Chính Phủ, dĩ nhiên là trong trường hợp Nội Các bị Quốc Hội bất tín nhiệm.

Đối với cùng một chủ đề, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức xác định rơ, chi tiếc hơn:



- " Vị Thủ Tướng Liên Bang được tuyển cử không cần thảo luận, theo lời đề nghị của Tổng Thống"

Sẽ được tuyển chọn, ai hội đủ đa số phiếu của các thành viên Hạ Viện ( đa số tuyệt đối). Người được tuyển chọn phải được Tổng Thống Liên Bang bổ nhiệm" ( Điều 63, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).



Sau ngày bầu cử Hạ Viện có kết quả, khi Hạ Viện sắp xếp xong các chức vụ và văn pḥng nội bộ, những cuộc thăm ḍ và thương lượng giữa các lực lượng chính trị trong Hạ Viện bắt đầu diển ra.

Sau khi hội đàm với các vị lănh đạo tối cao các chính đảng, Tổng Thống có thể biết được và ủy quyền cho một thành viên hay một nhà lănh đạo chính đảng thành lập Chính Phủ ( thường là chính đảng chiếm đa số, hay ít ra là người được các chính đảng đồng thuận ủng hộ trong các cuộc thăm ḍ vừa kể).

Người được ủy thác, sau khi nhận thức rằng ḿnh có thể tin cậy vào sự ủng hộ của một số lớn dân biểu Hạ Viện ( số lớn có khả năng quy tựu thành đa số tuyệt đối), có thể trả lời chấp nhận lănh nhiệm vụ trước Tổng Thống.

Dĩ nhiên, để chính thức đề cử ông với Hạ Viện, Tổng Thống cũng phải biết qua trước đường lối chính trị mà ông định thực hiện cho đất nước, đúng hơn là phương thức mà Chính Quyền tương lai của ông định áp dụng ( hành pháp) để thực hiện đường lối chính trị, mà đa số chính đảng trong Hạ Viện đă đề ra và được dân chúng đồng thuận tuyển cử.

Cũng vậy để tránh bất ngờ có thể xảy ra đối với quyết định bỏ phiếu tuyển chọn của Hạ Viện, Tổng Thống cũng cần biết thành phần các Bộ Trưởng tương lai của Chính Phủ ( W. Hennis, Richtlinienkompetenz und Regierungstechkik, Tuebingen 1964, cit. by Giuseppe de Vergottini, Diritto costituzionale comparato V ed., Cedam, Padova 1999, 669).

Sau những tiến tŕnh điều tra, duyệt xét, cân nhắc vừa kể, Tổng Thống " để nghị " vị Thủ Tướng tương lai và Hạ Viện tuyển cử.

Và Hạ Viện tuyển cử Thủ Tướng với đa số tuyệt đối:



- " Thủ Tướng Liên Bang được Hạ Viện không cần thảo luận, theo lời yêu cầu của Tổng Thống" ( Điều 63, đoạn 1, id.).



Tiến tŕnh vừa kể cho thấy Tổng Thống không phải chỉ là cơ quan " kỳ đà cản mũi ", mà là động lực trợ giúp và gia tăng vận tốc để h́nh thành Chính Quyền cho đất nước.



Giải tán Hạ Viện trước định kỳ.

a) * Hạ Viện không có khả năng tuyển chọn Thủ Tướng:

Nhưng nói đi, rồi cũng phải nói lại. Tổng Thống đă điều tra, duyệt xét, cân nhắc , làm hết mọi cách để chọn Thủ Tướng hành lập Tân Chính Phủ cho Đất Nước như vừa kể và đưa kết quả của bao công lao đến để Hạ Viện tuyển chọn, chọn Thủ Tuớng Chính Phủ.

Nếu mọi chuyện thuận bườm xuôi gió, th́ trong một thời gian ngắn, Quốc Gia vừa có Quốc Hội vừa có Chính Quyền để điều hành.

Nhưng nếu " trời xui đất khiến " các chính đảng cứ hục hặc căi vă, chẳng ai chịu thuận thảo với ai và ai cũng " giương cân cổ lên cải ", chẳng tha thiết ǵ đến quyền lợi của Đất Nước, Hiến Pháp giao cho Tổng Thống " đứng giữa và đứng trên " phải làm trọng tài và phạt đền đuổi cả hai đội ra khỏi sân, giải tán trận đấu khẩu:



- " Nếu nhân vật được ( Tổng Thống) đề cử không được Hạ Viện tuyển cử, Hạ Viện trong ṿng 14 ngày, kể từ ngày bầu cử, có thể tuyển chọn một Thủ Tướng bằng đa số thành viên của ḿnh".

" Nếu không có một cuộc bỏ phiếu nào trong khoảng thời gian vừa kể, liền sau đó phải có một cuộc bỏ phiếu khác, trong đó ai được nhiều phiếu nhứt ( đa số tuyệt đối) sẽ được tuyển chọn. Nếu nhân vật được tuyển chọn chiếm được đa số phiếu các thành viên Hạ Viện ( đa số tuyệt đối), trong ṿng bảy ngày sau cuộc đầu phiếu, Tổng Thống Liên Bang phải bổ nhiệm cho vị đó. Nếu nhân vật được tuyển chọn không đạt được đa số phiếu như vừa kể ( đa số tuyệt đối), trong ṿng 7 ngày, Tổng Thống Liên Bang có thể bổ nhiệm vị được tuyển chọn, hoặc giải tán Hạ Viện ( Điều 63, đoạn 3 và 4, Hiến Pháp 1949 CHLBD).



Như vậy 14+7+7= 28 ngày. Đă 28 ngày sau khi được dân chúng đồng thuận bầu cử cho, Hạ Viện vẫn không đồng thuận được với nhau để tuyển chọn cho Đất Nước một Thủ Tướng lănh đạo Chính Phủ để điều hành, để cho Đất Nước " vô Chính Phủ " một thời gian lâu dài như vậy là Hạ Viện bất lực và vô trách nhiệm, không xứng đáng tồn tại.

Tổng Thống Liên Bang " đại diện cho sự thống nhứt đất nước", nói lên tiếng nói của Đất Nước( K. Stern, Das Staetrecht der Bundesrepublik Deutschland, vol. I, C.H. Beck, Muenchen 1972, 765):



- " Tổng Thống Liên Bang...hoặc giải tán Hạ Viện" ( Điều 4, id.).



b) * Lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng:

- " Hạ Viện có thể tuyên bố bất tín nhiệm Thủ Tướng Liên Bang, chỉ khi nào Hạ Viện chọn được một vị thay thế với đa số phiếu các thành viên Hạ Viện và yêu cầu Tổng Thống Liên bang thu hồi chức vụ Thủ Tướng. Tổng Thống phải thoả măn lời yêu cầu của Hạ Viện và bổ nhiệm vị vừa được tuyển chọn" ( Điều 67, đoạn 1, id.).



Trong Đại Nghị Chế không ai có thể bắt buộc Quốc Hội tiếp tục " tín nhiệm", chịu đựng một Chính Quyền, mà ḿnh cho là có cách hành xử quyền lực Quốc Gia không hiệu năng, bè phái, thiệt hại cho Đất Nước.

Quốc Hội bỏ phiếu bất tín nhiệm và cho Chính Phủ về vườn, kể cả Đảng và Nhà Nước.

Dân Chủ là vậy.

Bất cứ ai hành xử quyền lực Quốc Gia lường lọc, bè phái, không hiệu năng, các vấn đề chồng chất không giải quyết được, gậy đ́nh trệ thiệt hại cho người dân và cho Quốc Gia, đều có thể bị Quốc Hội cho về vườn.

Nhưng Quốc Hội ( hay Hạ Viện, Bundestag ở CHLBD) không thể đuổi Chính Phủ về vườn, bằng một hành động vô trách nhiệm, để rồi sau đó khiến cho Đất Nước rơi vào t́nh trạng " vô Chính Phủ "triền miên kéo dài, với những thiệt hại khó lường.

Cách hành xử phải có của Quốc Hội trong trường hợp vừa kể được gọi là " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng " (konstruktive Misstrauensvotum): Hạ Viện có thể bất tín nhiệm Thủ Tướng , và dĩ nhiên kéo theo cả Chính Phủ, " chỉ khi nào Hạ Viện chọn được một vị thay thế với đa số phiếu các thành viên Hạ Viện ".

Tổng Thống vẫn đứng làm trọng tài, và nếu trong ṿng 14+7+7=28 ngày, Hạ Viện không chọn được Thủ Tướng mới với đa số tuyệt đối thành viên Hạ Viện, Hạ Viện có thể bị Tổng Thống cho về vườn, giải tán Hạ Viện trước định kỳ! ( W. Hennis, Richtlinienkompetenz und Regierungstechnik, Tubingen 1964, 72).



Hoặc: " Trường hợp Thủ Tướng Liên Bang yêu cầu hạ Viện bày tỏ ḷng tín nhiệm đối với ông không được đa số ( tuyệt đối) thành viên hạ Viện chấp thuận, trong ṿng 21 ngày, theo lời đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống có thể giải tán Hạ Viện. Quyền nầy sẽ không c̣n hiệu lực, vừa khi Hạ Viện tuyển chọn được một Thủ Tướng khác với đa số thành viên của ḿnh" ( Điều 68, đoạn 1, id.).



Một cách nào đó, sự hiện diện của Tổng Thống với viễn ảnh cho về vườn cũng là tiêng chuông cảnh tỉnh cách hành xử có trách nhiệm của Hạ Viện.



c) * T́nh trạng lập pháp khẩn trương:

- " Nếu trong trường hợp điều 68 quy định, Hạ Viện không bị giải tán, Tổng Thống theo lời yêu cầu của Chính Phủ, có thể tuyên bố " t́nh trạng lập pháp khẩn trương " với sự đồng thuận của Thượng Viện, đối với một đạo luật mà Hạ Viện bác bỏ, mặc dầu Chính Phủ đă tuyên bố khẩn trương.

Cũng vậy đối với môt dự án luật bị bát bỏ, mặc dầu Thủ Tướng Liên Bang đặt liên hệ giữa dự án luật và tính cách khả dĩ áp dụng của điều 68"

Nếu Hạ Viện lại bát bỏ một lần nữa dự án luật sau khi " t́nh trạng lập pháp khẩn trương" được tuyên bố, hoặc biểu quyết chấp thuận theo văn mạch, mà Chính Phủ không thể chấp nhận được, dự án luật được coi là luật đă được biểu quyết tán đồng, nếu được Thượng Viện đồng thuận. Điều nầy cũng có giá trị đối với một dự án luật không được Hạ Viện biểu quyết sau bốn tuần lễ được đệ tŕnh" ( Điều 81, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD).



Một lần nữa vai tṛ của Tổng Thống, cùng chung với Thượng Viện, tuyên bố " t́nh trạng lập pháp khẩn trương ", để bảo đảm cho các cơ chế Quốc Gia được hoạt động điều hoà, mưu ích cho Đất Nước.

Trước t́nh trạng khẩn trương được xác nhận, mặc dầu được Chính Quyền yêu cầu chuẩn y các nghị định hay sắc lệnh, Quốc Hội vẫn " ù ĺ " bất động hay tệ hại hơn c̣n bát bỏ dự án luật, Tổng Thống có thể, cùng với sự đồng thuận của Thượng Viện, tuyên bố " t́nh trạng lập pháp khẩn trương ", để giúp Chính Quyền đối phó với t́nh thế.

( Kể cũng nên nhắc, ở Cộng Hoà Liên Bang Đức, Thượng Viện ( Bundesrat) là Viện Quốc Hội gồm các đại diện Chính Quyền các Tiểu Bang ( Laender), đại diện cho quyền lợi của các Tiểu Bang, không dễ ǵ Hạ Viện có thể khuyến dụ, bắt bồ để toa rập hành xử bất chính, bè phái, nếu chính sách của Hạ Viện đi ngược lại quyền lợi địa phương)

Tuy nhiên để tránh lạm dụng và có thể hành xử quyền lực Quốc Gia tùy hỷ, Chính Phủ có thể được Tổng Thống và Thượng Viện " cưng ", biến thành độc tài, Hiến Pháp không thiếu khôn ngoan tiền liệu giới hạn:



- " Trong thời gian tại chức của một Thủ Tướng, trong suốt thời gian 6 tháng, kể từ ngày " t́nh trạng lập pháp khẩn trương " được tuyên bố, bất cứ dự án luật nào bị Hạ Viện bát bỏ, đều được coi là chuẩn y, theo tinh thần của đoạn 1 và 2.

Hết sáu tháng vừa kể, trong nhiệm kỳ của một Thủ Tướng, không thể được chấp nhận một lần công bố thứ hai " t́nh trạng lập pháp khẩn trương " ( Điều 81, đoạn 3, id.).



Tổng Thống là cơ quan bảo chứng cho cuộc sống Quốc Gia, nhưng không phải là dụng cụ bị lạm dụng, để bất cứ ai hành xử ỷ quyền ỷ thế bất chấp luật pháp và Hiến Pháp, càng không thể là dụng cụ bị lạm dụng để " lương lẹo ", né tránh, qua mặt để hành xử quyền lực một cách bất chính.

Lạm dụng " t́nh trạng khẩn trương" để thu tóm mọi quyền trong tay, hành xử độc tài của Hitler và Đức Quốc Xă, đưa Đất Nước đến đổ nát của Thế Chiến II, người Đức nào vũng c̣n nhớ.



d ) Chính Quyền bị khủng hoảng:

Tiến tŕnh giải quyết Chính Quyền bị khủng hoảng của Tổng Thống cũng tương tợ như lúc thành lập Tân Chính Phủ.

- Cử chỉ đầu tiên của Tổng Thống chấp nhận với điều kiện đơn từ chức của Thủ Tướng và giải nhiệm Chính Phủ của ông. Đồng thời Tổng Thống cũng yêu cầu ông " lưu nhiệm" để giải quyết các vấn đề thường nhật.

- Kế đến là cuộc thăm ḍ ư kiến các chính đảng, nhân sĩ, các đại diện chính trị, thành viên Quốc Hội cũng như ngoài Quốc Hội, để có được yếu tố trao trách nhiệm cho ai thành lập Tân Chính Phủ.

- Vị Thủ Tướng được chỉ định cũng sẽ tham khảo ư kiến các chính đảng và các nhóm chính trị, nghị sĩ cũng như giới chức để xem ḿnh có khả năng được Quốc Hội tín nhiệm không.

- Sau ṿng tham khảo ư kiến, vị Thủ Tướng được đề cử sẽ trở lại tường tŕnh kết quả với Tổng Thống và cho biết ḿnh chấp nhận trọng trách hay không.

- Nếu chấp nhận, vị Thủ Tướng được đề cử sẽ cung cấp cho Tổng Thống những yếu tố mới khác, chương tŕnh hành động của Tân Chính Phủ, danh sách Tân Nội Các.

Tổng Thống có quyền duyệt xét, phán đoán và góp ư về chương tŕnh hành động và danh sách của Tân Nội Các hay không?

Nhiều người cho rằng không, bởi lẽ đó là chương tŕnh và danh sách đă được đa số ủng hộ Thủ Tướng chấp thuận, khi ông làm một ṿng tham khảo. Xen vào ảnh hưởng đến chương tŕnh và danh sách các người được đề cử các chức vụ Bộ Trưởng của Tân Chính Phủ, Tổng Thống làm áp lực trên đa số.

Nhưng cũng có những ư kiến khác cho rằng nếu Tổng Thống không duyệt xét, phán đoán và góp ư trước đối với chương tŕnh và danh sách các Bộ Trưởng, việc đề cử Thủ Tướng để Quốc Hội tuyển cử có thể gặp thất bại, v́ chương tŕnh và tên tuổi các ứng viên không thích hợp.

Trong cả hai Hiến Pháp mà chúng tôi có dịp học hỏi và làm việc, không có Hiến Pháp nào xác định lằn mức hành xử giữa Tổng Thống và Bộ Trưởng. Có chăng đức khôn ngoan dạy chúng ta là sự hợp tác của cả hai, nhằm mưu ích tốt đẹp cho Đất Nước ( C. Mainardis, Presidente della Repubblica. Il ruolo del Capo di Stato nella crisi di governo: la prassi della presidenza Scalfaro, Giur. completa della Cassazione civile, 1997).



- Gởi Chính Phủ từ chức đến trước Quốc Hội.

Ngoài tiến tŕnh thành lập Tân Nội Các như vừa đề cập, Tổng Thống cũng có thể gởi Chính Quyền từ chức đến tŕnh bày lư do trước Quốc Hội, nhứt là khi khủng hoảng của Chính Quyền không do Quốc Hội gây ra, để Quốc Hội phán đoán và cũng để dân chúng biết được lư do.

Và như vậy Tổng Thống và Quốc Hội " vạch mặt chỉ trán " cho thấy ai là người chịu trách nhiệm gây nên cuộc khủng hoảng.Những người đó sẽ phải tính sổ với luật pháp và với dân chúng trong cuộc bầu cử tới.

Nếu lư do của cuộc khủng hoảng không do Quốc Hội gây ra ( Chính Quyền không bị Quốc Hội bất tín nhiệm), Tổng Thống có thể khước từ không chấp nhận đơn từ chức và gởi Chính Quyền đến để Quốc Hội biết được lư do và t́m phương cách giải quyết.

Tuy nhiên nếu Thủ Tướng hay Chính Quyền quyết định không rút lại lập trường của ḿnh, Tổng Thống không c̣n làm cách nào hơn ( G. Silvestri, Il Presidente della Repubblica dalla neutralità - garanzia al governo delle crisi, Quad. Cost., 1985).



( D ) Các quyền c̣n lại:



- " Giảm bớt án và ân xá là quyền được Tổng Thống ban cho dựa trên đạo luật ủy quyền của Quốc Hội" ( Điều 79, Hiến Pháp 1947 Ư Quốc).



Đó là những quyền c̣n lại được dành cho Tổng Thống, vị Nguyên Thủ Quốc Gia, nhân danh cả Đất Nước tha bớt hoặc tha bổng trong một vài trường hợp đặc biệt, đáng thương, hoặc nhân các cơ hội đặc biệt.

Các quyền vừa kể trong quá khứ được dành riêng cho nhà vua, như là Nguyên Thủ Quốc Gia.



Nói tóm lại, Tổng Thống trong Đại Nghị Chế không có quyền Hành Pháp như trong Tổng Thống Chế hay Bán Tổng Thống Chế.

Tổng Thống Chỉ là vị Nguyên Thủ Quốc Gia, đại diện cho sự hợp nhứt Đất Nước và có bổn phận trung thành và bảo vệ Hiến Pháp.

Các quyết định của Tổng Thống không ảnh hưởng đến các hoạt động Lập Pháp của Quốc Hội, cách thực hiện luật pháp ( Hành Pháp) của Chính Quyền, cũng như các phán quyết theo luật pháp ( Tư Pháp) của Toà Án, nếu các cơ chế Quốc Gia vừa kể tôn trọng những giá trị được ghi trong Hiến Pháp.

Ngoài ra bổn phận của Tổng Thống là kích thích và khuyến khích các cơ chế Quốc Gia áp dụng thực hành những ǵ được ghi trong Hiến Pháp, bảo trợ và trông coi cho cho các cơ chế Quốc Gia được hoạt động đều hoà, nhằm đem lại lợi ích cho dân chúng.

Tổng Thống của Đại Nghị Chế không có quyền Hành Pháp, hét ra lửa như Tổng Thống của Tổng Thống Chế Hoa Kỳ và Bán Tổng Thống Chế Pháp Quốc, nhưng cũng không phải là b́nh bông, chậu kiển, được dùng để chưng diện cho đẹp nhà đẹp của.

Đại diện cho sự hợp nhứt Quốc Gia, kiểm soát, hảm thắng, hướng dẫn cho cuộc sống Quốc Gia được trôi chảy, an toàn và sống xứng đáng, cũng như kích thích và bảo vệ cho các cơ chế hoạt động đều hoà mưu ích cho Đất Nước, đó là những nhiệm vụ cao cả và nổi bật của Tổng Thống.