TỔ-QUỐC DANH-DỰ
TRÁCH-NHIỆM
Tập-Thể Chiến-Sĩ VNCH Hải-Ngoại
Hộ-Đồng Đại-Diện
P.O. Box 5055, VA 22150 -
ĐT: (877) 263-6109
www.chiensivietnamconghoa.org
XÁC ĐỊNH LẬP TRƯỜNG VÀ KẾ HOẠCH
ĐỐI PHÓ VỚI
PHÁP LỆNH TÔN GIÁO CỦA CSVN
Tham chiếu: - Kế hoạch TRẦN HƯNG ĐẠO của TTCSVNCHHN
- Tuyên cáo ĐHTQ ngày 3 tháng 10 năm 2004 kỷ niệm dệ nhất chu niên ngày thành-lập
Tổng quát.
Kế hoạch TRẦN HƯNG ĐẠO đươäc ĐHTQ biểu quyết chấp thuận vào đầu tháng 10 nâm 2004, nhân dịp tổ chức kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày thành lập, là một chiến lươc hành động của TTCSVNCHHN, nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu là:
Giải thể chế độ CSVN và bất cứ chế độ độc tài nào ngơ hầu mang lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền và phúc lợi cho toàn dân
Nằm trong khuôn khổ chiến lược hành động của KH/THĐ, Đại Hội đă đề ra một số công tác cần làm ngay để ứng phó với t́nh h́nh h́nh đột biến. ưu tiên hàng đầu là sách lược và kế hoạch đối phó với Pháp Lệnh Tôn Giáo (PLTG) vừa đươc CSVN ban hành ngày 18-06-2004. Bản xác định lập trường và kế hoạch này có mục đích hướng dẫn về tư tưởng và sách lưộc tổng quát của Trung Ương đối với PLTG/CS, để các TTĐH/ĐP tuỳ nghi khai thác soạn thảo kế hoạch và chiến thuật ứng dụng thích nghi với nhu cầu và t́nh h́nh thực tế tại địa phương.
Tóm lược Pháp Lệnh Tôn Giáo của CSVN :
Ngày 18-6-2004 vừa qua, Ủy Ban Thường Vụ của Quốc Hội CSVN ban hành Pháp Lệnh số 21/2004 về Tín Ngưỡng và Tôn Giáo. Pháp lệnh là một loại luật có giá trị như một đạo luật nhưng không do khoáng đại quốc hội biểu quyết mà do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội chấp thuận với đa số thường, theo ủy nhiệm của khóa họp quốc hội. Đó là một cách làm luặt giản tiện của chính quyền CSVN để giải quyết những vấn đề cần nhanh gọn. Hiến pháp của chế độ CSVN không giới hạn hiệu lực của pháp lệnh so với một đạo luật thông thường của quốc hội. Pháp lệnh này có 6 chương gồm 41 điều.
- Chương 1: quy định chung như công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một
tôn giáo nào, và các quy định vô thưởng vô phạt khác chen vào những điều khoản
làm khung cho những ngăn cấm khe khắt khác ở các điều kế tiếp.
- Chương 2: Hoạt động của tín đồ, tu sĩ, chức sắc tôn giáo.
- Chương 3: Tổ chức tôn giáo và hoạt động của tổ chức này.
- Chương 4: Tài sản của cơ sở tôn giáo và hoạt động xă hội.
- Chương 5: Quan hệ quốc tế của tôn giáo, tín đồ và tu sĩ.
- Chương 6: Điều khoản thi hành. Ngày có hiệu lực 15/11/2004.
Một cách tổng quát, pháp lệnh này nhằm chi phối hai lănh vực của tôn giáo: (1) Quyền tin theo và làm tín đồ của tôn giáo, và hoạt động truyền đạo, (2) Đặt căn bản cho các biện pháp kiểm soát và chế tài ảnh hưởng đối với an ninh chính trị và ư thức hệ của đảng CSVN mà tôn giáo tạo ra. Mục đích chính của pháp lệnh là nắm quyền kiểm soát các hệ cấp tổ chức giáo hội. Đối với chế độ CSVN, nắm được giáo hội là kiểm soát được giáo đồ. Từ lập trường căn bản ấy, pháp lệnh có những quy định đáng chú ư. Tại chương 1, ta có thể thấy một số quy định căn bản: - Phân biệt hoạt động “tín ngưỡng” tôn thờ tổ tiên, thờ cúng thần thánh, biểu tượng thần thánh, người có công với quốc gia... với tổ chức “tôn giáo” là tập họp tín đồ theo một hệ thống giáo lư có cơ cấu nhất định “được nhà nước công nhận.” - Dành cho Mặt Trận Tổ Quốc, một tổ chức ngoại vi của đảng CS được xử dụng như b́nh phong để nắm gọn các đoàn thể nhân dân và tôn giáo, trách nhiệm và quyền hạn tập họp kiểm soát tín đồ các tôn giáo. Khoản quan trọng là điều 8 cấm lợi dụng tự do tín ngưỡng và tôn giáo để phá hoại ḥa b́nh, độc lập, thống nhất, kích động bạo lực chiến tranh, tuyên truyền trái pháp luật và chính sách của nhà nước, gây chia rẽ, gây rối loạn, mê tín dị đoan ... “và các hành vi vi phạm pháp luật khác.” Tại chương 2, ta thấy sự cấm đoán căn bản và rơ rệt nhất:
- Điều 11 ấn định các giáo sĩ chỉ được thực hiện nghi lễ, giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo. Không ai được tổ chức truyền giáo ngoài cơ sở tôn giáo mà không có phép của nhà cầm quyền (cấp thấp nhất là huyện).
- Điều 12 buộc tổ chức cơ sở tôn giáo phải đăng kư chưông trỉnh hoạt động hằng nâm. Thẩm quyền tổ chức lễ hội tín ngưỗng do chính phủ quy định.
- Điều 13 đặc biệt cấm những tu sĩ măn hạn tù hoặc thi hành xong lệnh quản chế do quyết định hành chánh được đứng chủ lễ, truyền đạo, giảng đạo và giữ việc quản trị một tổ chức tôn giáo. Điều này nhắm vào các tu sĩ đang chịu tù tội mà CSVN sẽ phải trả tự do vào một lúc nào đó.
- Điều 15 cho đ́nh chỉ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo khi các hoạt động này xâm
phạm an ninh quốc gia, trật tự công cộng, tác động xấu đến đoàn kết, văn hóa,
nhân phẩm người khác và “Có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác.” Tại
chương 3, áp đặt quyền kiểm soát của chính quyền:
- Điều 16 pháp lệnh mới của CSVN xác định rằng tổ chức tôn giáo chỉ được công nhận khi có các điều kiện trong đó đáng lưu ư là hiến chương, điều lệ, mục đích, đường hướng không trái với quy định của pháp luật, có đăng kư hoạt động và hoạt động ổn định. Việc thành lập, sát nhập, chia tách tổ chức tôn giáo cơ sở phải do Ủy Ban Nhân Dân cấp tỉnh chấp thuận. Ở cấp cao hơn sẽ do các chính quyền trung ương cho phép. Các cấp này cũng được quyền chấp thuận việc tổ chức hội nghị, đại hội tôn giáo. Việc đăng kư hội đoàn tôn giáo, ḍng tu, tu viện cũng theo thể lệ tương tự.
- Điều 22 áp đặt quyền kiểm soát của chính quyền CSVN đối với việc tấn phong, thăng tước vị của tu sĩ và các hàng giáo phẩm khác, cũng như việc bổ nhiệm thuyên chuyển các tu sĩ, giáo sĩ, việc thu nhận chủng sinh, học viên các trường tu học, các khóa huấn luyện tu sĩ, giáo sĩ. Tổ chức tôn giáo phải tŕnh cho chính quyền về người được thụ phong, bổ nhiệm, bầu cử, những việc cách chức, băi nhiệm. Và nhất là “trường hợp có yếu tố nước ngoài th́ phải có sự thỏa thuậën trước với cơ quan quản lư nhà nước về tôn giáo ở trung ương.” Phải thông báo nơi đi và nơi đến của những chức sắc được thuyên chuyển cho chính quyền cấp huyện. Việc mở trường đào tạo tu sĩ phải do thủ tướng chính quyền CSVN chấp thuận. Các lớp bồi dưỡng cho những người chuyên hoạt động tôn giáo do cấp tỉnh quyết dịnh.
- Điều 25 quy định các cuộc lễ tôn giáo diễn ra ngoài cơ sở tôn giáo tương tự như điều 11: phải có phép của cấp huyện lên đến trung ương tùy theo vùng có tín đồ tham dự từ nhiều xă, nhiều huyện hay nhiều tỉnh. Tại chương 4, quy định đặc quyền về tư tưởng: - Điều 32 đ̣i hỏi việc in và xuất bản, nhập cảng, xuất cảng kinh kệ, sách báo, mọi ấn phẩm khác về tôn giáo, đồ dùng phụng vụ “được thực hiện theo quy định của pháp luật.” Điều này áp đặt quy chế kiểm duyệt mà không dám nói rơ như thế. Tại chươ.ng 5 liên can nhiểu đến các quan hệ tôn giáo quốc tế: . Điều 35 dành quyền cho cơ quan quản lư tôn giáo trung ương đối với việc mời tổ chức và người nước ngoài vào Việt Nam hoặïc “triển khai” chủ trương của tôn giáo nước ngoài ở Việt Nam và khi cử người đi nước ngoài dự các khóa đào tạo. - Điều 36 buộc giáo sĩ ngoại quốc giảng đạo tại Việt Nam phải đuợc cơ quan quản lư tôn giáo trung ương chấp thuận. Riêng việc tấn phong, bổ nhiệm các chức sắc tôn giáo "có yếu tố nước ngoài" được quy định chặt chẽ hơn. Điều này chủ ư nhắm vào hai tôn giáo có nhiều liên hệ và thống thuộc với tổ chức giáo hội toàn cầu là Công Giáo La Mă và các hội thánh Tin Lành.
Nhận định của TTCSVNCHHN:
a. Điều 11 (nguyên văn) 1/. Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn
giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo trong các cơ sở tôn
giáo. 2/. Trươàng hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo ngoài
quy định tại khoản 1. Điều này phải có sự chấp thuận của Ủy Ban Nhân Dân huyện,
quận, thị xă, thành phố thuộc tỉnh (sau này gọi chung là Ủy Ban Nhân Dân cấp
huyện) Điều 11 có hai hậu quả pháp lư: (1) chỉ có các tu sĩ tôn giáo mới được
phép truyền đạo. Quần chúng không được quyền tham gia truyền đạo. (2) hành động
truyền đạo chỉ được diễn ra trong phạm vi nhà chùa, nhà thờ, thánh thất. Theo ư
nghĩa chặt chẽ của văn bản, th́ những điều này có nghĩa là không được giảng day
giáo lư trong các cuộc hội họp ở nhà riêng, ở một hội trường. Điều này c̣n có
thể diễn giải rộng hơn nữa, là cấm cả những việc giảng đạo, truyền bá tín ngưỡng
trên sóng truyền thanh, truyền h́nh, thư tín và mạng lưới internet toàn cầu. Rơ
ràng ư đồ thâm độc của CSVN là hợp pháp hóa những biện pháp ngược ngạo nhầm tiêu
diệt dần các Tôn Giáo, bởi lẽ, tại các quốc gia có tự do tôn giáo, những cơ sở
tôn giáo chỉ là nơi thực hiện nghi thức thờ phượng. Để truyền đạo, tu sĩ phải
được quyền tự do đến vối người dân, chứ không phải người dân t́m đến tu sĩ.
b. Điều 12 (nguyên vân): 1/. Người phụ trách tổ chức tôn giáo cơ sở có trách nhiệm đăng kư chương tŕnh hoạt động hầng năâm diễn ra tại cơ sở đó với Ủy Ban Nhân Dân xă, phường, thị trấn (sau này gọi chung là Ủy Ban Nhân Dân cấp xă) trường hợp tổ chức hoạt động ngoài chương tŕnh đă đăâng kư th́ phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận. 2/. Thẩm quyền tổ chức lễ hội tín ngưỡng do chính phủ quy định. Thật là phi lư, làm thế nào các tu sĩ có thể dự đoán những hôn lễ, lễ cầu an, tang lễ v.v. để đăêâng kư trước? Làm thế nào các tu sĩ biết trước được những chuyển biến của xă hội trong một nâm để xin phép tiến hành nghi thức cầu nguyện thích nghi? Thâm ư của điều 12 là biến các hoạt động của tôn giáo hoàn toàn trở nên khô cứng, không c̣n khả năâng bất kịp theo nhịp sống của quần chúng, chia sẻ những vui buồn của quần chúng. Cuối cùng, từng bước một vai tṛ của tôn giáo bị xoá mờ trong ḍng sinh hoạt chung của xă hội. Tôn giáo sẽ chết dần bên trong cơ sỏ tôn giáo.
c. Điều 13. (nguyên vân) Người đang chấp hành án phạt tù hoậc đang bị quản chế theo quy định của pháp luật th́ không được chủ tŕ lễ nghi tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo. quản lư tổ chức và chủ tŕ lễ hội tín ngưỡng. Điều 22 ( nguyên vân) Việc phong chức, phong thẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tôn giáo được thực hiện theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo và đảm bảo điều kiện quy định tại khoản 2 điều này; trường hợp có yếu tố nước ngoài th́ c̣n phải có sự thỏa thuận trưốc với cô quan quản lư nhà nước về tôn giáo trung ưông. Điều 13 và 22 cho thấy muốn phong chức một tu sĩ phải được sự cho phép trước của nhà nước CS. Riêng dối với việc ngưng chức một tu sĩ, nhà nước chỉ cần ban hành lệnh quản chế đối với tu sĩ nào bị coi là “khó bảo”, lập tức tu sĩ đương sự trở thành người bại liệt toàn diện trên mọi sinh hoạt tôn giáo.
d. Điều 1 (nguyên văn) Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Dường như CS thừa biết
điều 1 hoàn toàn không thu phục được long tin cẩn của người dân, cho nên PLTG
viết thêm điều 38. Điều 38. (nguyên văn). Trong trường hợp điều ước quốc tế mà
Cộng Hoà Chủ Nghĩa Xă Hội Việt Nam kư kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy
định của Pháp lệnh này th́ thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế đó. 4
Trả lời điều 38 của PLTG là điều 18 của Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền minh xác:
Điều 18 (QTNQ): Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn
giáo, quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổåi tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự
giảng dạy, hành đạo, thơà phụng và nghi lễ hoậc riêng nhà ḿnh hoậc với người
khá TẠI NƠI CÔNG CỘNG HAY TẠI NHÀ RIÊNG. Mang điều 38 PLTG đặt bên cạnh điều 18
QTNQ, chúng ta nhận biết ngay rằng bản chất của CS là thường xuyên ăn gian nói
dối đối với sự tin tưởng rầng không ai biết rầng họ đang ăn gjan nói dối.
e. Nhận xét chung, PLTG/CSVN nhằm kiểm soát toàn diện và toàn thể các sinh hoạt và tổ chức tôn giáo nên trong những điều khoản căn bản, điều kiện bắt buộc là những quy định được phép chỉ dành cho những tôn giáo và tổ chức tôn giáo có đăng kư hợp pháp và được phép hoạt động. Hiện nay đă có 6 tổ chức giáo hội của 6 tôn giáo (Phật Giáo, Công Giáo, Tin Lành - gồm 2 giáo hội Miền Bắc và Miền Nam - Ḥa Hảo, Cao Đài và Hồi Giáo) do chính quyền CSVN dựng ra và cấp giấy phép hợp pháp. Pháp lệnh mới của Hà Nội chẳng qua chỉ khẳng định một lần nữa chiến thuật dán nhăn hiệu nhằm chia để trị mà các chế độ thuộc địa xâm lược và các chính quyền chuyên chế thường áp dụng xưa nay để có cớ làm khó các giáo hội độc lập không được chế độ chấp nhận.
f. Trong pháp lệnh mới, chế độ CSVN công nhận những điều không thể không công nhận như quyền dự lễ, thực hiện giáo lư, nghi thức phụng vụ tất cả các tín ngưỡng. Trên thực tế hơn 20 năm gần đây, chế độ CSVN đă thả lỏng cho dăn chúng lễ lạy tự do, kể cả những việc làm mà họ vẫn cho là co ù tính cách mê tín dị doan như bùa chú, lên đồng, cầu hồn, vàng mă, bói toán. Việc thả lỏng này được chính quyền CSVN mặc nhiên áp dụng đặc biệt đối với các tín đồ những tín ngưỡng không có tổ chức thành hệ cấp thí dụ như dân chúng theo phong tục tín ngưỡng đa thần, tạp thần mà không theo hẳn một tôn giáo nào như thường thấy ở nông thôn nhất là Miền Bắc. Khi thả lỏng tín ngưỡng tạp thần, chế độ CSVN hẳn là muốn chiều ḷng đa số quần chúng sinh hoạt vô hại không có tổ chức thành hệ thống có giáo lư và giáo luật. Trong cùng lúc ấy, những sinh hoat của tín đồ các tôn giáo có tổ chức như Phặt Giáo, Công Giáo, Tin Lành, Ḥa Hảo, Cao Đài, Hồi Giáo bị theo dơi và kiểm soát tuy không ra mặt nhưng rất chặt chẽ.
g. Một khía cạnh khác là giống như hầu hết các luật lệ của chế độ CSVN, pháp lệnh này được viết với những lời lẽ rất mơ hồ ở những khoản tế nhị nhất. Nhiều điều khoản dành quyền định đặt một cách rộng răi như "theo luật pháp" hay "do chính phủ quy định." Đây là một cách mà chính quyền CSVN vẫn dùng để trị dân. Bản văn của các đạo luật có thể nghe rất kêu, thể hiện h́nh thức tinh thần dân chủ tự do và nhân quyền đầy đủ, nhưng lại dành cho chính phủ quyền lập quy hầu như không giới hạn để thực hiện các điều khoản của luật theo cách mà chính quyền muốn, đi ngược lại tinh thầøn bản văn.
h. Trong pháp lệnh các vi phạm được định danh một cách rộng răi như “phá hoại ḥa b́nh, độc lập, làm mất đoàn kết, gây chia rẽ, tiết lộ bí mật quốc gia, gây rối trật tự công cộng, tác động xấu đến văn hóa, chống lại chính sách của nhà nước...” Đây cũng là cách thả tḥng lọng pháp lư cho thật rộng để tùy trường hợp ṭa án muốn trừng trị nặng nhẹ bao nhiêu th́ có chỗ ma øtṛng vào cổ nạn nhân bằng tội danh nào cũng được.
i. Ngoài ra trong một chế độ mà quyền hành tự trị kiểu sứ quân của các đảng ủy địa phương nhiều khi lấn át cả trung ương, pháp lệnh này không thể giới hạn những hành vi đàn áp tôn giáo của cấp xă, huyện là hai cấp đang làm mưa làm gió độc hại nhất ở Việt Nam hiện nay. Thí dụ như các điều khoản về hành lễ và truyền giáo ngoài cơ sở tôn giáo phải được phép của Ủy Ban Nhân Dân huyện hay tỉnh. Với quyền hạn này được chính thức hóa, sinh hoạt tôn giáo tại mỗi địa phương sẽ hoàn toàn tùøy thuộc vào “ân huệ” thái độ và quan điểm của các cá nhân lănh đạo đảng ủy cấp huyện và tỉnh.
j. Xưa nay, mỗi khi muốn bỏ tù một nhà tranh đấu tôn giáo, đ̣i tự do dân chủ hay phản kháng chính trị ôn ḥa, chính quyền CSVN không đủ can đảm nh́n nhận đă giam cầm họ v́ lư do chính trị, tôn giáo hay lương tâm. V́ thế họ phải gán cho các nhà tranh đấu này những tội h́nh sự. Khi bị các tổ chức nhân đạo và báo chí bên ngoài cật vấn, chính quyền CSVN thường chối phắt rằng chế độ của họ không có tù chính trị, mà chỉ giam giữ các nhân vật này v́ họ phạm luật h́nh sự.
k. Sau khi Hà Nội công bố toàn văn Pháp Lệnh về Tôn Giáo va Tín Ngưỡng, dư luận thế giới đă có phản ứng chống đối nhất là từ các tổ chức bảo vệ tự do tôn giáo, các hội đoàn tôn giáo của người Việt Nam hải ngoại. Khi ban hành pháp lệnh này, chế độ CSVN đă cung cấp thêm bằng chứng cho quyết định của chính phủ Mỹ đặt chế độ CSVN vào danh sách các chính quyền đáng bị quan tâm về tự do tôn giáo, một lợi điểm cần được khai thác tối đa.
Tư tưởng chiến lược chỉ đạo
- Kế hoạch THĐ chủ trương vận dụng các nỗ lực chiến lược về ĐỊCH VẬN. DÂN VẬN và QUỐC TẾ VẬN để đấu tranh. Tuyệt đa số người Việt Nam là những người hữu thần, cho nên với việc cho ra đời PLTG diệt dần ṃn các tôn giáo, CSVN đang phạm sai lầm nghiêm trọng: khi tấn công các tôn giáo tức là tấn công vào quần chúng Việt Nam. Toàn dân VN trong và ngoài nước do đó sẽ nhất loạt đứng lên đ̣i hỏi tự do tôn giáo. Tự do tôn giáo chính là quyền độc lập của các tôn giáo, đồng thời cũng là quyền độc lập của quần chúng đối với chính quyền. Tự do tôn giáo với tự do dân chủ như hai anh em song sinh.
- Tôn giáo là thành phần cực kỳ quan trọng của văn hoá. PLTG/CSVN là ng̣i nổ dẫn đến cao trào tranh đấu cho tự do tôn giáo, đấu tranh cho tự do văn hoá. Tự do văn hoá, tự do tư tưởng la cổng chính dẫn vào lâu đài tự do dân chủ.
- Cao trào nhân dân VN đ̣i tự do tôn giáo, nhất là ở miền Cao Nguyên gần đây đẩy CSVN vào đươàng cùng cho nên buộc chúng phải cho ra đời PLTG để hợp pháp hoá hành động đàn áp tôn giáo tàn bạo và có hệ thống. Đây cũng là một thách thức hỗn láo đối với mọi nỗ lực vận động Quốc Hội Mỹ thông qua Dự Luật Nhân Quyền Việt Nam (tác giả là DB Christ Smith –R, NJ)
- TTCSVNCH/HN cần nắm lấy thời cơ CSVN phạm sai lầm về ư đồ tiêu diệt các tôn giáo, để vận dụng nỗ lực đoàn kết toàn dân trong cũng như ngoài nước, tranh đấu cho tự do tôn giáo, tự do dân chủ và nhân quyền cho VN.
Đường lối hành động khả thi
1. Lấy bản Tuyên cáo ngày 7 tháng 11 nâm 2004 của TTCSVNCH/HN lên án Pháp Lệnh Tôn Giáo của CSVN nhân dịp TTĐH Tây Bắc Hoa kỳ tổ chức hội thảo về PLTG/CSVN làm lập trường đấu tranh.
2. Hiện đă có
nhiều tổ chức phản kháng lẻ tẻ. Mục tiêu đường lối hành động của TTCSVNCH/HN là
đứng ra điều hợp việc liên kết ở những nơi có các tổ chức lẻ tẻ này, và cùng
phối hợp yểm trợ cuộc tranh đấu của các tổ chức đă liên kết.
3. Phát động chiến dịch dài hạn và đồng bộ tranh đấu cho tự do Tôn Giáo ở Việt
Nam, phản kháng CSVN tiêu diệt các tôn giáo, linh động tổ chức theo các phương
thức: (1) hoặc do TTĐH trung ương trực tiếp chỉ đạo, (2) hoặc do một TTĐH địa
phương đựợc trung ương chỉ định để phối hợp điều động, (3) hoặc do sáng kiến của
từng TTĐH địa phương, theo những tiêu chuẩn gợi ư dưới đây:
a. Chọn ngày 15 tháng 11 hằng năm làm ngày Pháp Nạn Tôn Giáo ở Việt Nam
b. Vận động thành lập Uûy Ban (hoặc Hội Đồng) Liên Tôn Hải Ngoại (UBLT) và các ủy ban liên tôn địa phương tranh đấu cho tự do tôn giáo ở VN, phản kháng CSVN tiêu diệt các tôn giáo.
c. Tổ chức thánh lễ, lễ cầu nguyện cho tự do tôn giáo VN tại mỗi cơ sở phụng vụ của các tôn giáo tại các địa phương nơi có người Việt cư ngụ.
d. Tổ chức những cuộc hội thảo về đề tài Pháp Lệnh Tôn Giáo của CSVN.
e. Tổ chức biểu t́nh phản kháng nơi có đông dân cư người Việt cư ngụ, hoặc nơi có sứ quán, lănh sự quán hay nơi có các nhân vật. phái đoàn CSVN thăm viếng hay đóng trụ sở về ư đồ CSVN tiêu diệt tôn giáo.
f. Gởi kháng thư về ư đồ CSVN tiêu diệt tôn giáo đến các cơ sở, đoàn thể, hiệp hội có thể can thiệp cho tự do tôn giáo VN như Ủy Ban Quốc Tế TDTG Hoa kỳ, hai viện Quốc Hội Mỹ, Bộ ngoại Giao Mỹ, LHQ, tổ chức UNESCO, Nghị Viện Âu Châu. Nghị Viện các cường quốc, Ân Xá Quốc Tế, Ủy Hội Nhân Quyền … cũng như các Giáo Hội lớn và các quốc gia trên thế giới.
g. Gởi kháng thư như trên đến các vị dân cử địa phương do các chi nhánh hiệp hội địa phương kư tên. Tổ chức thuyết tŕnh về PLTG/CSVN (nếu có thể) tại các nhà thờ, chùa, thánh đường, thánh thất… các tôn giáo của người bản xứ để xin họ yểm trợ tinh thần.
h. Vận động quốc tế áp lực ngoại giao, kinh tế, chính trị đối với CSVN về ư đồ tiêu diệt các tôn giáo.
i. Vận dụng các phương tiện truyền thông, truyền h́nh và mạng lưới internet toàn cầu tố cáo nhà cầm quyền CSVN chủ trương tiêu diệt tôn giáo.
j. Liên kết tín đồ các tôn giáo, ngoài phạm vi giáo quyền, để yểm trợ các tín đồ trong nước h́nh thành mặt trận đấu tranh chung cho tự do tôn giáo ở VN, thí dụ dưới h́nh thức phản kháng dân sự (civil disobedience) như nhân dân Ấn độ đă từng làm dưới sự lănh đạo của Gandhi.
Kết luận
Với bản chất độc tài nham hiểm, CSVN thừa hiểu rằng khi cho ra đời Pháp Lệnh Tôn Giáo, họ sẽ gặp nhiều rủi ro, nhưng đứng trước cao trào tôn giáo càng ngày càng phát triển mạnh mẽ trong ḷng quần chúng, nhất là tại Cao Nguyên Trung Phần gần đây, CSVN không thể có lựa chọn nào khác. Đây là một mâu thuẫn hết sức nghiêm trọng về mối quan hệ giữa CSVN với nhân dân VN và tất cả các quốc gia yêu chuộng tự do trên thế giới. TTCSVNCHHN hăy triệt để khai thác mâu thuẫn không thể khắc phục này của CSVN để tranh đấu rút ngắn thời gian ḱm kẹp của CS trên đầu nhân dân VN như chủ trưông kế hoạch THĐ đă đề ra.
San Jose, ngày 11 tháng 11
năm 2004
TM Hội Đồng Đại Diện TTCSVNCH/HN
Chủ Tịch Giáo Sư Toàn Phong
Nguyễn Xuân Vinh
(ấn kư)
Nơi nhận:
- TTT/TTDHTƯ “ để tuỳ nghi khai triển”
- HĐTV - HĐGS “để kính tường”
- Phổ biến tổng quát 8