Tái Chiếm Cổ Thành
Trên đường tiến quân, khi vừa vượt qua ngă ba Long Hưng, phía Đông quốc lộ 1, TĐ5ND đă chạm địch nhiều lần, đa số là các đơn vị pháo binh và pḥng không của địch.
Theo phóng viên Chad Huntley của UPI, các vị tư lệnh chiến trường đă đưa ra 3 kế hoạch khác nhau để tái chiếm Cổ thành Đinh Công Tráng. Kế hoạch thứ nhất là các lực lượng Dù và TQLC sẽ tấn công chính diện. Kế hoạch thứ hai là cho Không Quân san bằng cổ thành ra b́nh địa. Kế hoạch chót là bao vây để địch đói khát sẽ đầu hàng.
Cuối cùng để khỏi bị tŕ hoăn ăn pháo địch, kế hoạch thứ nhất được thi hành, đôi bên sẽ đối mặt phân tài cao thấp và thử gan anh hùng. Dưới con mắt của hàng chục phóng viên chiến trường từ khắp nơi trên thế giới, rồi đây hàng triệu người khác sẽ biết tới trận thử lửa để đánh giá khả năng và tinh thần chiến đấu của chiến sĩ VNCH.
Theo sử liệu, cổ thành được xây từ thời vua Gia Long nhà Nguyễn. Thành bằng đất chung quanh có hào sâu. tới triều vua Minh Mạng năm 1838, thành được phá đi và xây lại bằng gạch dầy và cao 5 thước. Người ta uớc lượng có chừng một trung đoàn địch với vũ khí đạn dược, và lương thực đầy đủ đang trú ẩn kỹ trong những lô cốt kiên cố chung quanh tường thành và các công sự chắc chắn bên trong cổ thành.
Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù được vinh dự nhận trách nhiệm tiến chiếm cổ thành Đinh Công Tráng, Trung tá TĐT Nguyễn Chí Hiếu, K14ĐL, và Thiếu tá TĐP Bùi Quyền, K16ĐL, là hai sĩ quan giàu kinh nghiệm chiến trường từ trận Mậu Thân 68, Kampuchia 69, Hạ Lào 71, đến trận nổi tiến An Lộc, B́ng Long năm 1972. Bây giờ trên chiến trường sôi động Trị Thiên nầy, hai anh đang hướng dẫn tiểu đoàn thiện chiến Nhảy Dù trên đường tiến chiếm cổ thành.
Địch quân phục sẵn để chào đón những chiến sĩ TĐ5ND, mặc dù phi pháo yễm trợ tối đa, nhưng vừa đánh vào là dội ra ngay, quân ta bị cắt ra làm ba, mỗi đại đội phải chiến đấu riênq rẽ. Các binh sĩ Dù vừa đánh vừa đào hầm trú ẩn, đôi khi phải gọi pháo bắn ngay trên đầu ḿnh v́ địch và ta đang cài răng lược, nhưng Cộng quân bị thiệt hại nhiều hơn v́ quân số đông hơn và không có hầm trú ẩn cấp thời như quân ta.
Với sự yễm trợ của phi pháo, Đại đội 51 của Trương Đăng Sĩ, K21ĐL, cùng Đại đội 52 của Hồ Tường, K26TĐ, Đại đội 53 của Lê Hữu Chí K20ĐL, và Đại đội 54 của Nguyễn Tiến Việt K23ĐL, đă đập tan các chốt địch, tiến thẳng lên Tri Bưu, Đông Bắc cổ thành Quảng Trị. Các Đại đội tịch thu được nhiều vũ khí nặng, khoảng 10 đại bác 130 ly và 122 ly.
Đối diện với cổ thành, các đại đội trưởng TĐ5ND cảm thấy khựng người. Một mục tiêu vô cùng kiên cố, chung quanh có hào sâu chừng gần 10 thước. Cổ thành nguyên là doanh trại của tiểu khu Quảng Trị, tháng 4/72 vừa qua, Bộ tư lệnh SĐ3BB từ căn cứ Ái Tử đă dời về đây. Tướng Vũ Văn Giai, TL/SĐ3, đă cho tu bổ và xây dựng thêm nhiều hệ thống pḥng thủ kiên cố mới. Khi lọt vào tay địch, nơi đây trở thành một khối đá to được bao bọc bởi những hỏa tập cận pḥng bằng 130 ly và 122 ly từ bên kia sông Thạch Hăn và bằng những súng đại bác 57 ly, 75 ly, B40, và thượng liên đặt trên bờ thành mà những xạ thủ đă bị xích chân vào súng.
Sau hơn hai tuần đối trận, TĐ5ND hao khoảng 100 người vừa chết vừ bị thương, cuối cùng tiểu đoàn chọn toán cảm tử để dựng cờ làm khí thế cho cuộc chiến đấu cam go nầy.
Nhiều người t́nh nguyện, nhưng 8 chiến sĩ được chọn, họ là những chiến sĩ trước đây đă ở trong Lực Lượng Đặc Biệt, từng nhảy toán vào ḷng địch. Trung tá Hiếu quyết định làm một việc ngoài quyền hạn của ḿnh, anh đă thăng cho mỗi người hai cấp để 8 chiến sĩ hiểu rằng, mọi người đều kính trọng các anh, những tráng sĩ Kinh Kha thời nay.
Buổi chiều ngày 24/7/1972, sau khi chiếc oanh tạc cơ cuối cùng rời vùng, hoàng hôn cũng vừa phủ xuống trên Cổ Thành. Tiến súng thưa thớt rồi im hẳn làm cho chiến trường bỗng nhiên ch́m trong khung cảnh tỉnh mịch. Nhưng chính trong những giây phút người lính tưởng chừng sẽ được nghĩ ngơi giây lát sau một ngày dài đội pháo nhích lên từng tấc đất, th́ thật ra đây là khoảng thời gian nguy hiểm nhất, v́ địch thường lợi dụng đêm tối ṃ vào đánh đặc công. Bởi vậy khi màn đêm phủ xuống, đó là thời gian “Thân ai nấy lo, hồn ai nấy giữ.”
Nhưng buổi tối hôm nay, 8 chiến sĩ Dù trong toán “Quyết tử” đang chuẫn bị vượt qua đoạn đường cam go nhất trong đời, đoạn đường từ điểm xuất phát đến chân bờ thành, một đoạn đường mà hơn 2 tuần nay, ngày nào các chiến sĩ Dù cũng đổ máu để thâu từng tấc đất, nhưng mà bờ tường của ngôi thành kia vẫn c̣n sừng sững như ngạo nghễ như thách đố!
Cái khoảng trống 300 thước đó là ṿng đai của tử thần. Một màn lưới hỏa lực dày đặc bao phủ ṿng đai này, giả sử có một con ḅ sút chuồng chạy vào thành, lập tức nó sẽ bị hàng chục viên đạn ghim vào ḿnh trước khi đến dưới bờ thành. Lại thêm những toán đặc công hoặc tiền đồn đ.ich “Độn thổ” bên ngoài để kịp thời phát hiện những toán xâm nhập.
Khi được giao phó nhiệm vụ tái chiếm Quảng Trị, các lực lượng ta đă chuẫn bị sẵn những lá cờ để dựng lên cổ thành, và đêm nay, toán cảm tử của ta sẽ thực hiện công tác thiêng liêng đó. Tại điểm xuất phát, 8 chiến sĩ Dù đều sẵn sàng. Hạ sĩ Trần Tâm làm trưởng toán, Hạ sĩ Hồ Khang được chỉ định giữ lá cờ đễ sẵn sàng để cắm lên Cổ Thành.
Khoảng 4 giờ sáng, trong bóng đêm, tám dũng sĩ lặng lẽ khởi hành; sau lưng họ, cấp chỉ huy, bạn đồng đội dơi mắt nh́n theo, gửi gấm nơi họ những lời chúc b́nh an, những niềm tin, và niềm hy vọng. Họ ra đi như Kinh Kha sang Tần ngày xưa, sông Dịch Thủy tuy rộng nhưng vẫn dễ qua hơn 10 thước hào sâu trước mặt, 9 bậc thềm rồng của vua Tần Thủy Hoàng tuy cao nhưng dễ lên hơn 5 thước tường thành cổ này.
Tám người mất hút trong bóng đêm rất nhanh. Những người ở lại trông chờ, họ cầu mong đêm nay vẫn liên tục im tĩnh. Thời gian như ngừng lại, không có tiếng người, không có tiếng súng, chỉ có tiếng côn trùng vọng lên giống như đêm nay là đêm thanh b́nh của những ngày chưa xảy ra cuộc xâm lăng của quân Bắc phương.
Trong bóng đêm dày đặc, các đồng đội đang gườm súng ứng chiến sẵn sàng, họ đếm từng phút và lắng nghe từng tiếng động. Chưa có tiếng súng nổ nghĩa là toán cảm tử vẫn chưa bị lộ. nhưng nếu hỏi giờ này họ tiến tới đâu th́ không ai có thể trả lời. Có thể 100 thước, 200 thước, đang vượt hào sâu, đang đứng dưới chân thành, cũng có thể đă bị bắt sống một cách nhẹ nhàng để chờ toán khác tiếp tục tiến vào?
Mọi người chỉ biết chờ đợi, đoán ṃ. Bỗng ngay hướng họ vừa đi, trên mặt thành. một bóng đen nhô lên giữa bầu trời mờ sáng, bay phất phới theo chiều gió: Lá cờ!!
Cùng lúc đó, trong sự tĩnh mịch của chiến địa, những tiếng hô dơng dạc vang lên: “Nhảy Dù cố gắng, Nhảy Dù chiến thắng, Việt Nam Cộng Ḥa muôn năm!”
Tiếng hô lồng lộng trong đêm khuya vang dội cả cổ thành. Lúc ấy trời sắp sáng, Trương Đăng Sĩ và Hồ Tường dẫn quân vượt qua hào sâu, tiến theo chỗ 8 dũng sĩ đă chiếm góc thành làm đầu cầu. Bổng một loạt đại bác 57 ly trực xạ vào nơi dựng cờ, cả chục cây thượng liên cùng châu mũi vào nhả đạn như mưa. Ánh sáng của màn lửa đạn làm nổi lên một lá cờ vàng ba sọc đỏ đang cắm trên mặt thành, mới vừa tung bay trước gió nay đă rơi xuống phủ lên ḿnh Hạ Sĩ Hồ Khang, người chiến sĩ cắm cờ trên bờ thành đă vĩnh viễn ra đi, bỏ lại vợ và 3 con c̣n thơ dại!
Trương Đăng Sĩ và Hồ Tường là hai Đại đội trưởng trẻ tuổi, gan dạ, đă lập nhiều chiến công oanh liệt tại Hạ Lào và An Lộc. Hai anh chỉ huy anh em đại đội, lợi dụng toán Quyết tử chiếm được đầu cầu ở bờ thành, vượt qua “ṿng đai tử thần,” vượt qua hào sâu dưới chân thành với sự yễm trợ tối đa của pháo binh và không quân. Khi những khinh binh đi đầu đă dựng lại ngọn cờ th́ một tai nạn thảm khốc đă xảy ra: hai phi tuần khu trục của ta, không biết v́ một sự lầm lẫn nào, đă chúi xuống trút bom ngay trên đầu hai đại đội, Trương Đăng Sĩ la lên thất thanh trong máy truyền tin, bom nổ, cả hai đại đội tan nát: gần 40 bị thương, 4 hy sinh trong đó có Hồ Sĩ Thơ và TS Hồ Con…là những chiến sĩ kiên cường! Bây giờ ở Úc Châu, với thân h́nh đầy thương tích, mỗi lần nhớ đến cơn ác mộng này, Sĩ cảm thấy ngậm ngùi thương cho số phận người chiến binh QLVNCH, binh củng Nhảy Dù, và Đại đội 51 của anh.
Ngày 27/7/72, lực lượng Dù được lệnh bàn giao cổ thành lại cho TQLC, sự thay đổi nhiệm vụ đột ngột nầy có một số người thắc mắc, nhưng lệnh hành quân là nhiệm vụ chung của tất cả, danh dự cũng là danh dự chung của quân nhân QLVNCH.
Ngày nào cũng có tù binh giải giao Ban 2 Lữ đoàn, tù binh đa số là Trung đoàn 141 và 165 thuộc Sư đoàn 324 CSBV.
Hai đại đội của TD7ND do thiếu tá Nguyễn Lô, K18ĐL, trên đường tiến quân gặp nhiều trở ngại hơn, v́ quân số bộ binh địch tập trung dài từ bờ Bắc song Nhungtới đồi 24, nhiều nhất là dưới chân núi căn cứ Ann. Cộng quân có pháo binh và chiến xa yểm trợ; v́ là vùng đồi trọc nên công binh địch đă lập các con đường dọc ngang, để vận chuyển tiếp liệu và đồng thời dễ dàng điều động chiến xa. Bộ binh địch thường đào hầm khoét sâu vào các núi đồi để tránh bom đạn của không quân và pháo binh của ta. Thời tiết mưa gió triền miên đă ảnh hưởng đến sự yểm trợ của không quân và tiếp tế tản thương của các tiểu đoàn; những trở ngại thiên nhiên cũng làm chậm bước tiến quân của TD7ND.
Cuối tháng 10/72, TĐ7ND cũng tiến được tới sát căn cứ Ann; và sau các cuộc đụng độ đẩm máu, tiểu đoàn đă chiếm được đồi yên ngựa, đồi 24 ở phía Đông, và c’ac đồi ở phía Nam căn cứ Ann. TĐ7ND đă tiêu diệt được một số chiến xa ở chân đồi. Ba đại đội đi đầu, mỗi đại đội được cung cấp một toán tiền sát viên pháo binh để sử dụng hỏa lực tiêu diệt các chiến xa, các vị trí pḥng không, và các vị trí súng cối, súng cộng đồng của địch.
Hai pháo đội 105 ly của TĐ1PB Dù đă yểm trợ cho TĐ7ND rất hữu hiệu. Khi trời sang tỏ, không quân cũng dành ưu tiên cho TĐ7ND. Xác địch nằm la liệt trên đường tiến quân.
Đầu tháng 11/1972, sau những đợt phi pháo, TĐ7ND rốt cuộc đă chiếm được căn cứ Ann; 6 khẩu pháo 105 ly của TQLC trước khi rút đă phá hủy và bỏ lại trên căn cứ này nay càng bị hư hại hoàn toàn.
TĐ7ND bắt sống khoảng 30 tù binh thuộc Trung đoàn 66 và 165 của Sư đoàn 324 CSBV; tịch thu khoảng 300 vũ khí đũ loại trong đó có cả súng cối 160 ly do Liên Xô chế tạo. Tiểu đoàn 7 ND cũng bị tổn thất (vừa chết vừa bị thương) khoảng một đại đội! Có hai đại đội trưởng và 10 sĩ quan bị thương!
Chính Tướng Ngô Quang Trưởng khi nghe tái chiếm được căn cứ Ann cũng đă thừa nhận là căn cứ Ann vùng động Ông Đô rát khó đánh; ông đă hết lời khen ngợi chiến sĩ TĐ7ND.
Sau khi ổn định vị trí, TĐ7ND được TĐ6ND ra thay thế để rút về tuyến sau tái bổ sung quân số và làm lực lượng trừ bị.
Từ lúc mất vị trí quan trọng (căn cứ Ann,) địch tập trung nỗ lực định chiếm lại căn cứ này và các điểm tựa đă mất. Cộng quân pháo kích dữ dội vào các vị trí các đại đội của TĐ6ND bằng đủ loại hỏa tiển 107 ly và 122 ly; rồi ồ ạt tấn kích với chiến xa yểm trợ. Binh sĩ TĐ6ND đă đào hầm sâu vào sườn đồi để nế tránh pháo địch. Lúc địch tấn công th́ họ nhô ra khỏi miệng hầm, sử dụng súng cá nhân, lựu đạn, và súng cộng đồng chống trả.
Phái Bắc căn cứ Ann khoảng 1 cây số rưỡi có một ngọn đồi yên ngựa, tuy hơi thấp nhưng có thể chế ngự và kiểm soát được đường tiến quân từ sườn Đông và sườn Tây căn cứ Ann. Tại đó có một số tử giác mà địch có thể lợi dụng được. V́ vậy một đ.ai đội TĐ6ND đă trấn giữ, nên việc pḥng thủ căn cứ Ann được bảo đảm hơn.
Suốt hai tuần lễ, Cộng quân luân phiên tấn công căn cứ và điểm tựa nhiều lần, nhưng địch đều bị thất bại phải chạy tháo lui bởi hỏa lực cùng sự chống trả quá kiên cường của chiến sĩ TĐ6ND và của pháo binh yểm trợ cận pḥng.
Khi truy kích, TĐ6ND của Trung tá Nguyễn Văn Đỉnh tịch thu được hàng trăm súng đủ loại, xác địch nằm ngổn ngang dưới chân đồi, không bắt giữ được một tù binh nào cả.
Pháo đài bay B-52 đă dội hàng trăm tấn bom xuống phía Bắc và sườn Tây của căn cứ, gây cho địch tổn thất nặng nề. Có thể nói TĐ6ND với tài chiến đấu dũng cảm của binh sĩ, cùng sự yểm trợ dồi dào của phi pháo, nên đă loại ra khỏi ṿng chiến ít nhất 2 tiểu đoàn thuộc Sư đoàn 308 CSBV. TĐ6ND có 3 đại đội trưởng bị thương, khoảng 150 quân nhân vừa chết vừa bị thương.
Để hổ trợ cho cuộc tấn công vào căn cứ Ann, địch đă tung một trung đoàn thọc sâu vào thung lũng phía Động căn cứ giữa TĐ3ND và TĐ6ND để tấn công đồi 90 và các đồi khác do TĐ3ND trú đóng nhằm mục đích cắt đường tiếp viện cho TĐ6ND. Cộng quân đưa vào rất nhiều hỏa tiển 107 ly (loại 12 ṇng do Liên Sô chế tạo,) cùng sung pḥng không 12 ly 8, 37 ly để bắn chận các máy bay trực thăng tiếp tế và tản thương; đồng thời liên tục pháo kích vào chổ trú quân của ta.
Trận chiến giằng co ngọn đồi chiến thuật 90 giữa hai bên xẩy ra nhiều lần.. Ban ngày binh sĩ TĐ3ND chiếm th́ ban đêm địch phản công lấy lại. Thấy vậy BTL/SĐ3ND đưa TĐ8ND lên tăng cường cho LĐ2ND.
TĐ8ND được lệnh thọc sâu tiến đánh địch tại vùng thung lũng gọi là mục tiêu 18 (giữa TD6ND và TĐ3ND.) Đang khí thế hăng hái sau thời gian, TĐ8ND đă hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Với rất ít thiệt hại mà chỉ trong hai ngày đă làm chủ mục tiêu 18, lấy được kho đạn gồm súng cối 61 ly, 82 ly, và 107ly … do địch vội vă rút chạy nên không kịp phá hủy…Cộng quân bỏ lại trạm xá với những thương binh c̣n quấn băng đầy người, đang nằm chết tại các hầm cứu thương.
Binh sĩ Dù tung ra lục soát, đào xới các ụ đất khả nghi và tịch thu được sung cối, đại bác không giật 57 ly, máy truyền tin, súng đại liên, và nhiều súng cá nhân.
Tháng 11/1972 th́ toàn vùng chạy từ Bắc căn cứ Ann xuống đến phía Nam qua căn cứ Barbara trong dăy Trường Sơn đều hoàn toàn yên tĩnh. Các đơn vị Dù tiếp tục bung rộng vùng kiểm soát, đă tịch thu thêm nhiều xe vận tải chở quân và trang cụ chiến đấu; cùng lương thực (gạo) của địch.
Ngoài ra ta c̣n phát giác hàng đoàn xe tiếp tế đă bị bom B-52 đánh trúng, nằm nghiêng ngửa đổ tung toé trên đường xâm nhập.
Giữa tháng 12/1972, khi ḥa đàm Ba Lê sắp đến hồi kết thúc quan trọng. Sư đoàn Dù cho lệnh các đơn vị mở rộng ra hướng Tây. TĐ8ND chiếm đánh cĂn cứ Suzie ở phía Tây căn cứ Ann khoảng 3 cây số, và thọc sâu tới sát bờ sông Thạch Hăn. Chỉ trong 10 ngày Tiểu đoàn đă hoàn thành nhiệm vụ.
TĐ2ND được lệnh chiếm vùng “Động Tiên” ở Tây Nam căn cứ Suzie khoảng 2 cây số. TĐ2ND chiếm được vùng này sau một tuần lễ giao tranh lẻ tẻ; binh sĩ lục soát tịch thu rất nhiều lương thực gồm gạo thịt, và cá hộp, cùng lương khô do Trung Cộng cung cấp. Địch bỏ chạy v́ các kho này do hậu cần canh giữ, không đủ khả năng chống đỡ lại các binh sĩ thiện chiến của TĐ2ND.
Tháng 3/1973, sân bay Ḥa Mỹ (tức căn cứ Evans cũ,) do LĐ2ND trách nhiệm, được dung để các máy bay C130 chở tù phiến Cộng đáp xuống, rồi dùng GMC chở chúng ra bờ sông Thạch Hăn trao đổi tù binh theo Hiệp Ước Ba Lê quy định.
Hàng ngàn tù binh CSBV đă được trao trả cho phía bên kia, và ta cũng đă nhận về một số rất ít những chiến sĩ VNCH do địch bắt trước kia (quân CSBV thường giết hại tù binh.)
Tháng 9/1972, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra thăm Quảng Trị, đă đến tận bản doanh SĐND ở Hiệp Khánh. Tại đây, sau khi nghe Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù và các sĩ quan tham mưu tŕnh bày diễn tiến hành quân, và kết quả trận đánh, Tổng Thống đă ra sân trước coi các chiến lợi phẩm tịch thu được của địch gồm: chiến xa T54, PT76, BTR85, các đại bác 122 ly, 75 lyṇng ngắn và ṇng dài, 130 ly … các sung hỏa tiển và đạn dược: 107 ly, 122 ly, SA7, AT3; các máy truyền tin, các xe vận tải Zin và Molotova sắp hàng đầy sân. Cùng nhiều trang bị chiến đấu và quân trang quân dụng …
Tổng Thống bước lên đứng cạnh pháo tháp xe tăng T54 và bảo tài xế chạy một ṿng sân; rồi ngồi trên giàn pḥng không 37 ly, sử dụng tay quay điều khiển sung lên , xuống, và quay ṿng 360 độ.
Các đơn vị thuộc SĐND đă hoàn thành được nhiệm vụ giao phó, v́ chúng ta có những binh sĩ gan dạ, chịu đựng, và thiện chiến; c’ac Hạ sĩ quan ưu tú nhiều kinh nghiệmchiến trường; các sĩ quan trung, đ.ai đội trưởng tài giơi, đa năng, đa hiệu; c’ac tiểu đoàn trưởng đièu quân rất xuất sắc, phản ứơc tính chính xác, và sử dụng hỏa lực hữu hiệu.
Trong một thời gian hạn định, tướng Ngô Quang Trưởng đă điều động 2 đơn vị Tổng Trừ Bị tái chiếm lại được Quảng Trị, nơi địch quân đă dồn hết lực lượng chủ chốt để thách đố quân lực VNCH. Tướng Ngô Quang Trưởng đă diệt đ.ich không phải bằng một cuộc phản công đại quy mô. Mà bằng những cuộc tấn kích nho nhỏ và liên tục, mỗi ngày một khác và ở những điểm không giống nhau, nhằm mục đích tiêu hao để rồi diệt gọn địch. Ông tiếp tục cho hành quân phản công lấn đất lần về phía thị xă Quảng Trị. Sau đó chiếm lại thành phố và bao vây rồi trương cờ lên cổ thành Đinh Cổng Tráng.
Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị
Courtesy of Col. Donald L. Price, USMC
“Members of the 6th VNMC Battalion raised their nation’s flag over the west gate of the Citadel. For the South Vietnamese and their Marines this was a proud moment of victory.”
Nelson, Charles D., and Curtis G. Arnold. The Marines in Vietnam: The War that Would not End 1971-1973. Washington D. C.: History and Museum Division Headquarters, U.S. Marine Corps, 1991.
Source: Karnow, Stanley: Vietnam, A History. p. 575.
IPASS Notes:
The Vietnamese flag hovered the devastating Quang Tri city after it was liberated by the Armed Forces of the Republic of Vietnam from the Vietnamese Communists army in 1972.
Source: http://www.viettrade.net/military_history/citadel1.htm